Chinh tri the gioi 2014 (duckt st)

Sau đây là 2 quan điểm trái ngược về tình hình quốc tế 2014

1-Bi quan

Địa chính trị đang trở lại vị trí trung tâm: Sự trả thù của các cường quốc xét lại

WALTER RUSSELL MEAD

Cho đến thời điểm này, năm 2014 đã là một năm nhiều biến động, khi các cuộc tranh giành địa chính trị ồ ạt chiếm lại sân khấu trung tâm. Dù đó là các lực lượng vũ trang Nga đang chiếm giữ Krym, hay Trung Quốc đang đưa ra các yêu sách chủ quyền quyết đoán tại các vùng biển ven bờ, hay Nhật Bản đang đáp trả bằng một chiến lược ngày càng quyết đoán của chính mình, hay đó là Iran đang ra sức sử dụng các liên minh với Syria và Hezbollah để khống chế Trung Đông, thì các cách vận dụng quyền lực kiểu cũ cũng đang trở lại trong các quan hệ quốc tế.

Hoa Kỳ và Liên Âu, ít ra, cũng nhận thấy các xu thế này là đáng lo ngại. Cả hai đều muốn vượt qua những vấn đề địa chính trị gắn liền với lãnh thổ và sức mạnh quân sự và thay vào đó tập trung vào các vấn đề thuộc về trật tự thế giới và quản trị toàn cầu: tự do hóa mậu dịch, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, nhân quyền, chế độ pháp trị, thay đổi khí hậu, vân vân. Thật vậy, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, mục tiêu quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Tây Âu là chuyển các quan hệ quốc tế từ các vấn đề có bên thắng bên thua [zero-sum issues] sang các vấn đề hai bên đều có lợi [win-win issues]. Bị lôi cuốn vào trong những cuộc đọ sức theo trường phái cũ như cuộc tranh chấp tại Ukraine không những lấy mất thì giờ và năng lực từ những vấn đề quan trọng nói trên; nó còn thay đổi bản chất của chính trị quốc tế. Khi môi trường quốc tế trở nên đen tối, công cuộc phát triển và duy trì trật tự thế giới ngày càng gặp nhiều đe dọa hơn.

Nhưng lẽ ra người phương Tây đừng bao giờ kỳ vọng rằng địa chính trị kiểu cũ cuối cùng sẽ biến mất. Sở dĩ họ tưởng như vậy chỉ vì trên cơ bản họ đã hiểu sai ý nghĩa về sự sụp đổ của Liên Xô: đây chỉ là một cuộc chiến thắng ý thức hệ của thể chế dân chủ tư bản tự do đối với chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là sự lỗi thời của quyền lực cứng [hard power]. Trung Quốc, Iran, và Nga không bao giờ chấp nhận sự dàn xếp địa chính trị tiếp theo sau Chiến tranh Lạnh, và những nước này đang toan tính các nỗ lực ngày càng táo bạo hơn để đảo ngược tình hình. Tiến trình này sẽ không theo đường lối hòa bình, và dù các cường quốc xét lại này có thành công hay không, thì những nỗ lực của chúng cũng đã làm lung lay quân bình lực lượng và thay đổi các tương tác chính trị quốc tế.

MỘT Ý THỨC SAI LẦM VỀ AN NINH

Khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhiều người Mỹ và người châu Âu dường như đã nghĩ rằng những vấn đề địa chính trị phiền phức nhất phần lớn đã được giải quyết xong. Ngoại trừ một số vấn đề tương đối nhỏ, như những rắc rối tại Nam Tư cũ và cuộc tranh chấp giữa Israel và Palestine, họ đinh ninh rằng những vấn đề lớn nhất trong chính trị thế giới sẽ không còn liên quan đến các biên giới quốc gia, các căn cứ quân sự, vấn đề dân tộc tự quyết, hay các vùng ảnh hưởng.

Không ai có thể trách cứ con người vì nuôi hi vọng. Đường lối tiếp cận của phương Tây đối với tình hình thực tế của thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh đã mang nhiền ý nghĩa, và thật khó tưởng tượng ra hòa bình thế giới có thể trở thành hiện thực mà không cần thay thế sự tranh giành địa chính trị [geopolitical competition] bằng việc xây dựng một trật tự thế giới tự do. Tuy nhiên, người phương Tây thường quên rằng dự án này đặt cơ sở trên các nền móng địa chính trị đặc thù vừa được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 1990 mà thôi.

Tại châu Âu, cuộc dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh đưa đến việc thống nhất nước Đức, chia năm xẻ bảy Liên Xô, và kết nạp các quốc gia thuộc khối Warzsawa cũ và các nước cộng hòa Baltic vào NATO và Liên Âu. Tại Trung Đông, nó dẫn đến sự thắng thế của các nước Hồi giáo Sunni đồng minh với Hoa Kỳ (Ả-rập Saudi, các đồng minh Vùng Vịnh, Ai Cập, và Thổ Nhĩ Kỳ), và một chính sách bao vây ngăn chặn kép [double containment] nhắm vào hai nước Iran và Iraq. Tại châu Á, nó đồng nghĩa với ưu thế không bị ai thách thức của Hoa Kỳ, được củng cố bằng một loạt quan hệ an ninh với Nhật Bản, Nam Hàn, Australia, Indonesia, và các đồng minh khác.

Sự dàn xếp này phản ánh thực tế quyền lực lúc bấy giờ, và nó chỉ được vững vàng như các mối quan hệ đang chống đỡ nó mà thôi. Đáng tiếc là, nhiều nhà quan sát đã đồng hóa tình hình địa chính trị tạm thời của thế giới sau Chiến tranh Lạnh với kết quả được coi như là chung cục của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa thể chế dân chủ tự do và chế độ cộng sản Xô-viết. Tuyên bố nổi tiếng của nhà nghiên cứu chính trị Francis Fukuyama, rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh có nghĩa là “cáo chung của lịch sử”, chỉ là một phát biểu về ý thức hệ. Nhưng đối với nhiều người, sự sụp đổ của Liên Xô không những có nghĩa là cuộc đấu tranh ý thức hệ của nhân loại đã chấm dứt vĩnh viễn; họ còn nghĩ rằng bản thân địa chính trị cũng đến hồi chấm dứt vĩnh viễn.

Thoạt nhìn, kết luận này có vẻ là một suy diễn từ lý luận của Fukuyama chứ không phải là một sự bóp méo. Dẫu sao, ý kiến về sự cáo chung của lịch sử đã dựa vào những hậu quả mang tính địa chính trị của những cuộc đấu tranh ý thức hệ kể từ khi triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel lần đầu tiên phát biểu nó vào đầu thế kỷ 19. Đối với Hegel, chính trận Jena, năm 1806, đã hạ màn cuộc chiến giữa các tư tưởng. Theo quan điểm của Hegel, việc Napoleon Bonaparte tiêu diệt toàn bộ quân Phổ trong chiến dịch ngắn ngủi nói trên là chiến thắng của Cách mạng Pháp đối với đội quân tinh nhuệ nhất mà châu Âu tiền-Cách mạng có thể tạo ra. Điều này đã đưa đến một cáo chung cho lịch sử, Hegel lý luận, bởi vì trong tương lai, chỉ có những quốc gia chấp nhận những nguyên tắc và kỹ thuật của nước Pháp cách mạng mới có thể cạnh tranh và tồn tại.

Áp dụng vào thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, lý luận của Hegel được suy diễn là, trong tương lai, các quốc gia sẽ phải chấp nhận những nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản tự do mới theo kịp thời đại. Những xã hội cộng sản khép kín như Liên Xô đã tỏ ra thiếu sáng tạo và kém năng suất, không thể cạnh tranh về kinh tế và quân sự với các quốc gia tự do. Chế độ chính trị của chúng cũng rất khập khễnh, vì không một hình thức xã hội nào khác ngoài thể chế dân chủ tự do mới có thể cung ứng đủ tự do và nhân phẩm cho một xã hội đương thời giữ được ổn định.

Để chống lại phương Tây hữu hiệu, các nước sẽ phải bắt chước phương Tây, và nếu việc này diễn ra, chúng sẽ trở thành một dạng thức xã hội mờ nhạt, chủ hòa, nhu nhược không còn muốn chiến đấu vì bất cứ lý do gì. Mối nguy duy nhất còn sót lại đối với hòa bình thế giới sẽ phát xuất từ các quốc gia côn đồ như Bắc Triều Tiên, và dù những nước này có đủ ý chí để thách thức phương Tây đi nữa, chúng cũng sẽ bị cơ cấu xã hội và chính trị lỗi thời của mình làm cho trở nên què quặt, không thể vượt lên trên mức độ chỉ gây khó chịu cho các nước khác (trừ phi chúng phát triển được vũ khí nguyên tử, hẳn nhiên). Và vì thế, các quốc gia cộng sản cũ, như Nga chẳng hạn, đã đối diện với một lựa chọn. Hoặc là tham gia phong trào hiện đại hóa và trở thành những quốc gia tự do, cởi mở, và chủ hòa, hoặc là cứ bám lấy vũ khí và văn hóa của mình trong khi bị thế giới qua mặt.

Lúc đầu, mọi việc có vẻ diễn ra như thế. Với lịch sử [của cuộc chiến ý thức hệ] chấm dứt, sự tập trung được chuyển từ địa chính trị sang các lãnh vực kinh tế phát triển và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, đồng thời phần lớn chính sách đối ngoại chuyển trọng tâm sang các vấn đề như thay đổi khí hậu và thương mại. Kết hợp sự chấm dứt của địa chính trị với sự cáo chung của lịch sử đã đưa ra một viễn ảnh đặc biệt hấp dẫn đối với Hoa Kỳ: đó là ý tưởng cho rằng Mỹ có thể bắt đầu giảm bớt việc đóng góp vào hệ thống quốc tế mà vẫn thu hoạch nhiều lợi lộc hơn. Mỹ có thể giảm chi tiêu quốc phòng, cắt bớt các ngân khoản của Bộ Ngoại giao, giảm bớt sự hiện diện của mình tại những điểm nóng ở nước ngoài – và thế giới chỉ việc tiếp tục phồn thịnh và tự do hơn.

Viễn kiến này đã từng thu hút cả phe phóng khoáng lẫn phe bảo thủ tại Hoa Kỳ. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton, chẳng hạn, đã cắt giảm ngân sách của cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Ngoại giao và trong tơ tóc đã thuyết phục được Quốc hội tiếp tục đóng lệ phí cho LHQ. Đồng thời, những nhà làm chính sách Mỹ lúc đó đinh ninh rằng hệ thống quốc tế sẽ trở nên vững mạnh hơn và có ảnh hưởng sâu rộng hơn trong khi vẫn đưa đến các lợi ích của Hoa Kỳ. Những chính khách theo chủ nghĩa cô lập mới trong Đảng Cộng hòa (Republican neo-isolationists), như cựu dân biểu Ron Paul từ Bang Texas, đã tranh luận rằng trong tình hình không có những thách thức địa chính trị nghiêm trọng, Hoa Kỳ có thể nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và viện trợ trong khi vẫn tiếp tục hưởng lợi từ hệ thống kinh tế toàn cầu.

Sau Biến cố 9/11, Tổng thống George W. Bush đã đặt cơ sở chính sách đối ngoại trên xác tín là quân khủng bố Trung Đông đã trở thành một kẻ thù đặc biệt nguy hiểm, và Bush phát động điều mà ông cho là một cuộc chiến lâu dài chống lại chúng. Trên một số phương diện, thế giới lại quay về với phạm trù lịch sử đấu tranh. Nhưng tín lý của chính quyền Bush cho rằng thể chế dân chủ có thể dễ dàng được bứng sang  Trung Đông Ả Rập, bắt đầu bằng Iraq, là một bằng chứng về một sự tin tưởng sâu sắc rằng dòng thác biến cố toàn cầu đang diễn ra trong chiều hướng có lợi cho Mỹ.

Tổng thống Barack Obama đã xây dựng chính sách đối ngoại của mình trên xác tín cho rằng “chiến tranh chống khủng bố” đã bị thổi phồng quá đáng, rằng lịch sử [xung đột ý hệ] đã thực sự chấm dứt, và rằng, cũng như trong những năm Clinton cầm quyền, những ưu tiên quan trọng nhất đều liên quan tới việc củng cố trật tự thế giới tự do chứ không phải theo đuổi sách lược địa chính trị cổ điển. Chính quyền này đã minh định một nghị trình cực kỳ tham vọng nhằm yểm trợ trật tự đó: chặn đứng nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân của Iran, giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine, đàm phán một thỏa ước về vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước trên Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, ký kết các hiệp ước kiểm soát vũ khí với Nga, chấn chỉnh lại quan hệ ngoại giao của Mỹ với thế giới Hồi giáo, bênh vực quyền lợi của người đồng tính luyến ái, phục hồi niềm tin của các đồng minh châu Âu, và chấm dứt cuộc chiến tại Afghanistan. Nhưng, đồng thời Obama đã lên kế hoạch nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và giảm bớt sự hiện diện của Mỹ tại những địa bàn chủ yếu trên thế giới, như châu Âu và Trung Đông.

MỘT TRỤC SÂU MỌT?

Tất cả những tin tưởng tốt lành nói trên sắp bị thử thách. Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, dù người ta tập trung chú ý vào sự kèn cựa giữa Liên Âu và Nga về Ukraine, một biến cố đã đưa đến việc Nga chiếm lấy Krym; hay người ta tập trung chú ý vào cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng cường độ giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Á; hay vào cuộc xung đột giáo phái đang bị thu hút vào các tranh chấp quốc tế hay các nội chiến tại Trung Đông, thì người ta vẫn nhận ra rằng càng ngày thế giới càng có vẻ chưa chịu để lại lịch sử đấu tranh ở đằng sau. Trong những cung cách rất khác nhau, với những mục tiêu rất khác nhau, Trung Quốc, Iran, và Nga cùng nhau đẩy lùi giải pháp chính trị của Chiến tranh Lạnh.

Mối tương quan giữa ba cường quốc xét lại này là phức tạp. Trong trường kỳ, Nga lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thế giới quan của Tehran ít có điểm chung với thế giới quan của Bắc Kinh hay của Moskva. Iran và Nga là những nước xuất khẩu dầu và muốn giá dầu cao; Trung Quốc rốt cuộc vẫn là nước tiêu thụ dầu và muốn giá dầu thấp. Bất ổn chính trị tại Trung Đông có thể làm lợi cho Iranvà Nga nhưng lại đặt ra nhiều rủi ro to lớn cho Trung Quốc. Ta không nên nói đến một liên minh chiến lược giữa ba nước này, và qua thời gian, nếu chúng thành công trong việc phá hoại ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực Á Âu, căng thẳng giữa chúng có khả năng sẽ gia tăng chứ không giảm bớt.

Tuy nhiên, điều kết hợp những cường quốc này lại với nhau chính là sự nhất trí rằng nguyên trạng cần phải được xét lại. Nga muốn tái phục hồi Liên Xô được chừng nào hay chừng ấy. Trung Quốc không có ý định tự mãn với một vai trò thứ yếu trong các vấn đề toàn cầu, đồng thời cũng không chấp nhận mức độ ảnh hưởng hiện nay của Hoa Kỳ tại châu Á và nguyên trạng lãnh thổ [the territorial status quo] tại đó. Iran muốn thay thế trật tự hiện nay tại Trung Đông – một trật tự do Ả Rập Saudi lãnh đạo và bị các quốc gia Ả Rập Hồi giáo Sunni khống chế – bằng một trật tự lấy Tehran làm trung tâm.

Lãnh đạo của ba nước này còn nhất trí với nhau rằng quyền lực Mỹ là trở ngại chính cho việc họ thực hiện các mục tiêu xét lại [revisionist goals] của mình. Thái độ thù địch của họ đối với Washington và trật tự mà Mỹ đặt ra có tính vừa công vừa thủ: không những họ hi vọng rằng sự suy yếu của quyền lực Mỹ sẽ làm cho việc lập lại trật tự mới trong khu vực của họ dễ dàng hơn, mà còn lo ngại rằng Washington có thể ra sức lật đổ họ nếu bất bình của người dân trong nước họ gia tăng. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo xét lại này muốn tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, ngoại trừ trong một số trường hợp hiếm hoi khi tình hình hết sức thuận lợi cho họ (như trong vụ Nga xâm lăng Georgia năm 2008 và chiếm đóng rồi sáp nhập Krym năm nay). Thay vì đối đầu trực tiếp với nguyên trạng, họ tìm cách làm sứt mẻ dần dần các qui phạm và các mối quan hệ vốn đang duy trì nó.

Kể từ khi Obama trở thành tổng thống Mỹ, mỗi một trong ba cường quốc này đã theo đuổi một chiến lược riêng biệt tùy theo chỗ mạnh, yếu của mình. Nghịch lý là, Trung Quốc, quốc gia có nhiều tiềm năng to lớn nhất trong bộ ba, đã gặp nhiều trở ngại nhất. Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm quyết đoán chủ quyền của mình trong khu vực chỉ mang đến hậu quả là làm thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đồng minh châu Á và gia tăng cường độ của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản. Tiềm năng của Bắc Kinh càng lớn, thì ý thức về thất bại sẽ càng sâu sắc. Một sự gia tăng sức mạnh từ phía Trung Quốc sẽ gặp phải một sự gia tăng quyết tâm từ phía Nhật Bản, và các căng thẳng tại châu Á sẽ có khả năng lan tràn sang lãnh vực kinh tế và chính trị toàn cầu.

Iran, quốc gia yếu nhất trong bộ ba này căn cứ trên nhiều thước đo, lại đạt nhiều thành tích nhất. Một kết hợp của việc Mỹ xâm lăng Iraq và việc Mỹ sau đó rút quân ra quá sớm đã giúp Tehran hàn gắn các mối quan hệ sâu sắc và bền vững với các trung tâm quyền lực có ý nghĩa ở bên kia biên giới Iraq, một diễn biến đã làm thay đổi cán cân quyền lực giáo phái và chính trị ở trong khu vực. Tại Syria, Iran, với sự trợ giúp của Hezbolla, một đồng minh lâu đời, đã đủ sức đảo ngược tình hình quân sự và chống đỡ được chính phủ của Bashar al-Assad trước sự phản đối mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ. Sự chiến thắng của chính trị thực tế này đã gia tăng quyền lực và uy tín của Iran một cách đáng kể. Khắp Trung Đông, Mùa Xuân Ả Rập đã làm suy yếu các chế độ Hồi giáo Sunni, đẩy thêm cán cân quyền lực về phía có lợi choIran. Iran cũng hưởng lợi nhờ mối chia rẽ ngày càng tăng giữa các chính phủ Sunni về cách họ phải ứng xử với Tổ chức Huynh đệ Hồi giáo và các chi nhánh và thành viên của nó.

Trong khi đó, Nga xuất hiện như một cường quốc xét lại có thành tích trung bình: mạnh hơn Iran và yếu hơn Trung Quốc, thành công hơn Trung Quốc về địa chiến lược nhưng không thành công bằng Iran. Nga đã đạt một số kết quả vừa phải trong nỗ lực ly gián Đức với Hoa Kỳ, nhưng tham vọng của Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc phục hồi Liên Xô cũ đã trở nên khập khiễng do những giới hạn gay gắt của sức mạnh kinh tế nước ông. Để xây dựng một khối Á-Âu thực sự, như Putin mơ ước thực hiện, Nga sẽ phải cung cấp ngân sách cho các cộng hòa Xô-viết cũ – một điều Nga không đủ sức làm.

Tuy nhiên, bất chấp khả năng hạn chế của mình, Putin đã thành công xuất sắc trong việc làm thất bại các dự án của phương Tây trên lãnh thổ Xô-viết cũ. Ông đã chặn đứng NATO ngay trên con đường bành trướng của nó, đưa Armenia vào quĩ đạo của mình, nắm chặt Krym, và, với sự phiêu lưu của ông tại Ukraine, đã giáng một đòn bất ngờ khiến phương Tây cảm thấy bức xúc và nhục nhã. Từ quan điểm của phương Tây, Putin dường như đang đẩy đất nước mình vào một tương lai đen tối hơn bao giờ hết, để trở thành một quốc gia nghèo và đứng bên lề hệ thống quốc tế. Nhưng Putin không tin rằng lịch sử đã chấm dứt, và từ góc nhìn của ông, ông đã củng cố được quyền lực ở trong nước và đã nhắc nhở các cường quốc thù nghịch ở bên ngoài biết rằng con gấu Nga vẫn còn vuốt sắc.

CÁC THẾ LỰC HIỆN NAY

Những cường quốc xét lại này theo đuổi những nghị trình và có những tiềm năng khác biệt nhau đến nỗi không một nước nào trong nhóm này có thể tạo ra một lực chống đối có hệ thống và mang tính toàn cầu như Liên Xô đã làm trước đây. Do đó, người Mỹ đã chậm nhận ra rằng những quốc gia này đã làm lung lay trật tự địa chính trị Á Âu trong những cung cách gây khó khăn cho Mỹ và châu Âu trong nỗ lực xây dựng một thế giới hậu-lịch sử, đôi bên đều có lợi [a post-historical, win-win world].

Tuy vậy, người ta vẫn có thể chứng kiến các hậu quả của hành vi xét lại này ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Đông Á, mặc dù lập trường ngày một quyết đoán của Trung Quốc chưa đạt nhiều tiến độ địa chính trị cụ thể, nhưng trên cơ bản nó đã thay đổi động lực tương tác chính trị trong một khu vực hiện có những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chính trị châu Á ngày nay xoay quanh sự kèn cựa giữa các dân tộc, các đòi hỏi chủ quyền xung đột nhau, các nỗ lực tăng cường hải quân, và các vấn đề lịch sử tương tự. Cuộc phục sinh của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản, một đáp trả trực tiếp đối với nghị trình của Trung Quốc, đã làm phát sinh một tiến trình theo đó chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy ở nước này sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc ở nước kia. Trung Quốc và Nhật Bản đang tăng cường giọng điệu cứng rắn, gia tăng ngân sách quân sự của mỗi bên, khởi động các cuộc khủng hoảng song phương với tần suất cao hơn, và ngày càng tập trung vào cuộc tranh giành có bên thắng bên thua [zero-sum competition].

Mặc dù Liên Âu vẫn còn ở trong những giờ phút hậu-lịch sử [trong quan niệm cho rằng lịch sử đấu tranh ý thức hệ đã hoàn toàn chấm dứt], nhưng những cộng hòa nằm ngoài khối Liên Âu và thuộc Liên Xô cũ lại đang sống trong một thời đại rất khác. Trong vài năm qua, những hi vọng về việc chuyển đổi Liên Xô cũ thành một khu vực hậu-lịch sử đã phai tàn. Việc Nga chiếm Ukraine chỉ là bước mới nhất trong một loạt diễn biến đã biến Đông Âu thành một khu vực xung đột địa chiến lược gay gắt, khiến cho việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ vững chắc và hữu hiệu trở nên khó thực hiện bên ngoài các quốc gia Baltic và Ba Lan.

Tại Trung Đông, tình hình thậm chí còn gay gắt hơn. Những ước mơ rằng thế giới Ả Rập đang tiến đến điểm chuyển đổi sang thể chế dân chủ – những ước mơ đã tạo hình dáng và phẩm chất của chính sách Hoa Kỳ dưới chính quyền Bush lẫn Obama – cũng đã phai tàn. Thay vì xây dựng một trật tự thông thoáng trong khu vực, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ đang phải đối phó với sự tan rã của hệ thống nhà nước đã được khai sinh từ hiệp ước Sykes-Picot năm 1916, một hiệp ước đã chia cắt các vùng trong Đế quốc Ottoma, trong khi việc điều hành quốc gia đang bị xói mòn tại Iraq, Lebanon, và Syria. Obama đã cố gắng hết sức để tách rời vấn đề địa chính trị trong việc Iran bành trướng quyền lực nhanh chóng khắp khu vực khỏi vấn đề nước này phải tuân theo Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí hạt nhân, nhưng những lo lắng của lãnh đạo Israel và Ả Rập Saudi về những tham vọng khu vực của Iran đang làm cho nỗ lực của Obama càng khó thực hiện. Một cản trở khác cho việc đạt được thỏa ước với Iran chính là Nga, một cường quốc đã sử dụng địa vị của mình trong Hội đồng Bảo an LHQ và việc hậu thuẫn cho Assad để đẩy lùi các mục tiêu của Mỹ tạiSyria.

Nga xem ảnh hưởng của mình tại Trung Đông như là một tài sản quan trọng trong cuộc cạnh tranh quyền lực với Mỹ. Điều này không có nghĩa là Moskva sẽ theo phản xạ chống lại các mục tiêu của Mỹ trong mọi trường hợp, nhưng có nghĩa là những kết quả mang lại lợi ích cho cả đôi bên [the win-win outcomes] mà lãnh đạo Mỹ sốt sắng tìm kiếm đôi khi sẽ bị hi sinh vì những lợi ích địa chính trị của Nga. Trong việc quyết định cần phải mạnh tay như thế nào với Nga về vấn đề Ukraine, Nhà Trắng không thể tránh né việc cân nhắc hậu quả đối với lập trường của Nga về cuộc chiến Syria hay về chương trình hạt nhân củaIran. Nga không thể biến mình thành một nước giàu có hơn hay rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay, nhưng nó đã làm cho mình trở thành một yếu tố quan trọng trong tư duy chiến lược của Mỹ, và Nga có thể sử dụng lợi thế này để đòi hỏi các nhượng bộ quan trọng đối với mình.

Nếu những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại này đã thắng thế, thì sức mạnh của những cường quốc muốn duy trì nguyên trạng đã bị xói mòn. Tình trạng suy yếu này diễn ra rõ nét nhất tại châu Âu, nơi mà cái thảm họa không suy giảm của đồng tiền chung đã chia rẽ công luận và buộc Liên Âu phải xoay hướng tập trung vào bên trong. Liên Âu có lẽ đã tránh được hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra của cuộc khủng hoảng đồng euro, nhưng cả ý chí lẫn khả năng để hành động có hiệu quả ở ngoài biên giới của mình đã bị tổn thương đáng kể.

Hoa Kỳ đã không kinh qua một thiệt hại to lớn nào tương tự như nỗi đau kinh tế mà phần lớn châu Âu đã trải qua, nhưng vì Mỹ cũng đang đối diện nhiều vấn đề, gồm cái dư vị trong chính sách đối ngoại do những cuộc chiến của Bush để lại, một nhà nước giám sát ngày càng xâm phạm đời tư công dân, một cuộc hồi phục kinh tế chậm chạp, và một luật cải tổ y tế bị nhiều người chống đối, tâm lý công chúng đã trở nên chán chường. Cả bên cánh Tả lẫn bên cánh Hữu, người Mỹ đang đặt nghi vấn về những lợi ích của trật tự thế giới hiện nay và về khả năng của những kiến trúc sư đã tạo ra nó. Ngoài ra, dân chúng cũng chia sẻ sự đồng thuận của giới cầm quyền rằng trong một thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ nhất định có thể đóng góp ít hơn vào hệ thống quốc tế và rút ra nhiều lợi lộc hơn. Khi điều đó không xảy ra, người dân bèn đổ lỗi cho lãnh đạo. Dẫu sao, người dân Mỹ không còn mấy thiết tha đối với các sáng kiến đồ sộ mới mẻ ở trong cũng như ngoài nước. Một quần chúng yếm thế đang trở nên thờ ơ với một Washington phân cực, bằng một thái độ vừa chán chường vừa khinh bỉ.

Obama lên cầm quyền với kế hoạch cắt giảm chi tiêu quân sự và thu nhỏ tầm quan trọng của chính sách đối ngoại trong chính trị Mỹ trong lúc tăng cường trật tự thế giới tự do. Nhưng hiện nay, hơn nửa đoạn đường trong chức vụ tổng thống, Obama thấy mình bị sa lầy vào chính những hình thức tranh đua địa chính trị mà trước đây ông từng hi vọng có thể vượt qua. Chính sách phục thù của Trung Quốc, Iran, và Nga chưa lật đổ được sự dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh tại khu vực Á Âu, và có lẽ không bao giờ làm được điều này, nhưng nó đã biến một nguyên trạng không tranh chấp [uncontested status quo] thành một nguyên trạng bị tranh chấp. Các tổng thống Mỹ không còn tự do hành động khi họ tìm cách củng cố hệ thống tự do; càng ngày họ càng bận tâm với việc chống đỡ những nền tảng địa chính trị của hệ thống này.

HOÀNG HÔN CỦA LỊCH SỬ

Chính vì cách đây 22 năm Fukuyamađã cho xuất bản cuốn The End of History and the Last Man (Cáo chung của Lịch sử và Con người Cuối cùng) mà người ta có xu thế coi sự tái xuất của địa chính trị là một cách bác bỏ dứt khoát luận thuyết của ông. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Như Fukuyama đã nhắc nhở người đọc, tận cùng của lịch sử là ý kiến của Hegel, và mặc dù loại hình nhà nước cách mạng đã vĩnh viễn chiến thắng loại hình chế độ cũ, Hegel lý luận, cạnh tranh và xung đột sẽ còn tiếp tục diễn ra. Ông tiên đoán rằng những xáo trộn chính trị sẽ xảy ra trong các lãnh thổ, ngay cả khi các vùng trung tâm của văn minh châu Âu đi vào một thời kỳ hậu-lịch sử (post-historical time). Giả dụ các lãnh thổ trong quan niệm của Hegel gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga, chắc chắn người ta sẽ không ngạc nhiên rằng hơn hai thế kỷ sau, những xáo trộn kia vẫn chưa chấm dứt. Chúng ta đang sống trong buổi hoàng hôn của lịch sử chứ không sống vào thời điểm lịch sử đã thật sự cáo chung.

Ngày nay, một quan niệm về tiến trình lịch sử theo kiểu Hegel sẽ cho rằng kể từ đầu thế kỷ 19 đến nay tiến trình này vẫn không mấy thay đổi. Để được hùng mạnh, các quốc gia phải phát triển những tư duy và những định chế có thể cho phép họ sử dụng các lực vô cùng to lớn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và thông tin. Ngoài ra, không còn có một con đường nào khác; xã hội nào không đủ sức hoặc không muốn đi theo con đường này cuối cùng sẽ trở thành kẻ tuân theo mệnh lệnh của lịch sử chứ không thể làm nên lịch sử.

Nhưng con đường dẫn đến thời hậu hiện đại [postmodernity] vẫn còn nhiều gập ghềnh. Để tăng cường quyền lực của mình, Trung Quốc, chẳng hạn, rõ ràng sẽ phải đi qua một tiến trình phát triển kinh tế và chính trị, đòi hỏi nước này phải khắc phục những vấn đề mà các xã hội phương Tây đã và đang đối phó. Nhưng, vẫn không có gì đảm bảo rằng con đường mà Trung Quốc sử dụng để đi tới tình trạng hiện đại tự do và ổn định sẽ ít hỗn độn hơn con đường mà Đức đã đi qua, chẳng hạn. Buổi hoàng hôn của lịch sử không phải là một thời gian yên ắng.

Phần hai cuốn sách của Fukuyama ít được chú ý vì không làm hài lòng người phương Tây. Khi Fukuyama tìm hiểu một xã hội hậu-lịch sử sẽ giống như thế nào, ông đã phát hiện một hình ảnh đáng lo ngại. Trong một thế giới mà những vấn đề lớn đã được giải quyết xong và lãnh vực địa chính trị đã nhường bước cho lãnh vực kinh tế, nhân loại trông sẽ giống như “con người cuối cùng” theo chủ nghĩa hư vô mà triết gia Friedrich Nietzche đã mô tả: đó là người tiêu thụ chỉ biết chăm chút chính mình mà không còn khát vọng nào lớn hơn ngoài chuyến đi mua sắm tiếp theo.

Nói cách khác, những người này sẽ gần giống giới quan liêu châu Âu và giới vận động hành lang tại Washington ngày nay. Họ có thừa khả năng để quản lý công việc của mình trong xã hội hậu-lịch sử, nhưng hiểu được các động cơ và chống lại được những chiến lược của các lãnh đạo chính trị cường quốc kiểu cũ là việc khó đối với họ. Khác với những đối thủ của họ vừa kém năng suất vừa thiếu ổn định, những con người hậu lịch sử không biết hi sinh, chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, dễ dàng bị lung lạc, và thiếu can đảm.

Thực tế của đời sống cá nhân và sinh họat chính trị tại những xã hội hậu lịch sử là rất khác với thực tế tại những nước như Trung Quốc, Iran, và Nga, nơi mà mặt trời lịch sử vẫn đang chiếu sáng. Những xã hội khác biệt này không những đề cao các nhân cách và giá trị khác biệt, mà các định chế của chúng cũng hoạt động kiểu khác và dân chúng ở đó chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng kiểu khác.

Các xã hội gồm toàn những con người cuối cùng của Nietzche có đặc tính là hiểu sai và đánh giá thấp những đối thủ mà họ cho là bán khai trong những xã hội mà họ cho là lạc hậu – một điểm mù có thể, chí ít tạm thời, xoá bỏ những lợi thế khác của nước họ. Trào lưu lịch sử có thể đang chảy không ngừng về hướng thể chế dân chủ tư bản tự do, và mặt trời lịch sử có thể đang thật sự khuất sau những rặng đồi. Nhưng thậm chí khi bóng đêm len xuống và vì sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời thì những nhân vật như Putin vẫn còn sải bước trên sân khấu thế giới. Họ sẽ không nhẹ nhàng đi vào cái đêm an lành kia, mà bằng tất cả cuồng nộ, họ sẽ chống lại sự lụi tắt của ánh sáng.

__________

WALTER RUSSELL MEAD là Giáo sư về Các Vấn đề Đối ngoại và Khoa học Nhân văn tại Đại học Bard và là Cộng tác viên của The American Interest.

Địa chính trị đang trở lại vị trí trung tâm: Sự trả thù của các cường quốc xét lại

WALTER RUSSELL MEAD

Cho đến thời điểm này, năm 2014 đã là một năm nhiều biến động, khi các cuộc tranh giành địa chính trị ồ ạt chiếm lại sân khấu trung tâm. Dù đó là các lực lượng vũ trang Nga đang chiếm giữ Krym, hay Trung Quốc đang đưa ra các yêu sách chủ quyền quyết đoán tại các vùng biển ven bờ, hay Nhật Bản đang đáp trả bằng một chiến lược ngày càng quyết đoán của chính mình, hay đó là Iran đang ra sức sử dụng các liên minh với Syria và Hezbollah để khống chế Trung Đông, thì các cách vận dụng quyền lực kiểu cũ cũng đang trở lại trong các quan hệ quốc tế.

Hoa Kỳ và Liên Âu, ít ra, cũng nhận thấy các xu thế này là đáng lo ngại. Cả hai đều muốn vượt qua những vấn đề địa chính trị gắn liền với lãnh thổ và sức mạnh quân sự và thay vào đó tập trung vào các vấn đề thuộc về trật tự thế giới và quản trị toàn cầu: tự do hóa mậu dịch, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, nhân quyền, chế độ pháp trị, thay đổi khí hậu, vân vân. Thật vậy, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, mục tiêu quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Tây Âu là chuyển các quan hệ quốc tế từ các vấn đề có bên thắng bên thua [zero-sum issues] sang các vấn đề hai bên đều có lợi [win-win issues]. Bị lôi cuốn vào trong những cuộc đọ sức theo trường phái cũ như cuộc tranh chấp tại Ukraine không những lấy mất thì giờ và năng lực từ những vấn đề quan trọng nói trên; nó còn thay đổi bản chất của chính trị quốc tế. Khi môi trường quốc tế trở nên đen tối, công cuộc phát triển và duy trì trật tự thế giới ngày càng gặp nhiều đe dọa hơn.

Nhưng lẽ ra người phương Tây đừng bao giờ kỳ vọng rằng địa chính trị kiểu cũ cuối cùng sẽ biến mất. Sở dĩ họ tưởng như vậy chỉ vì trên cơ bản họ đã hiểu sai ý nghĩa về sự sụp đổ của Liên Xô: đây chỉ là một cuộc chiến thắng ý thức hệ của thể chế dân chủ tư bản tự do đối với chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là sự lỗi thời của quyền lực cứng [hard power]. Trung Quốc, Iran, và Nga không bao giờ chấp nhận sự dàn xếp địa chính trị tiếp theo sau Chiến tranh Lạnh, và những nước này đang toan tính các nỗ lực ngày càng táo bạo hơn để đảo ngược tình hình. Tiến trình này sẽ không theo đường lối hòa bình, và dù các cường quốc xét lại này có thành công hay không, thì những nỗ lực của chúng cũng đã làm lung lay quân bình lực lượng và thay đổi các tương tác chính trị quốc tế.

MỘT Ý THỨC SAI LẦM VỀ AN NINH

Khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhiều người Mỹ và người châu Âu dường như đã nghĩ rằng những vấn đề địa chính trị phiền phức nhất phần lớn đã được giải quyết xong. Ngoại trừ một số vấn đề tương đối nhỏ, như những rắc rối tại Nam Tư cũ và cuộc tranh chấp giữa Israel và Palestine, họ đinh ninh rằng những vấn đề lớn nhất trong chính trị thế giới sẽ không còn liên quan đến các biên giới quốc gia, các căn cứ quân sự, vấn đề dân tộc tự quyết, hay các vùng ảnh hưởng.

Không ai có thể trách cứ con người vì nuôi hi vọng. Đường lối tiếp cận của phương Tây đối với tình hình thực tế của thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh đã mang nhiền ý nghĩa, và thật khó tưởng tượng ra hòa bình thế giới có thể trở thành hiện thực mà không cần thay thế sự tranh giành địa chính trị [geopolitical competition] bằng việc xây dựng một trật tự thế giới tự do. Tuy nhiên, người phương Tây thường quên rằng dự án này đặt cơ sở trên các nền móng địa chính trị đặc thù vừa được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 1990 mà thôi.

Tại châu Âu, cuộc dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh đưa đến việc thống nhất nước Đức, chia năm xẻ bảy Liên Xô, và kết nạp các quốc gia thuộc khối Warzsawa cũ và các nước cộng hòa Baltic vào NATO và Liên Âu. Tại Trung Đông, nó dẫn đến sự thắng thế của các nước Hồi giáo Sunni đồng minh với Hoa Kỳ (Ả-rập Saudi, các đồng minh Vùng Vịnh, Ai Cập, và Thổ Nhĩ Kỳ), và một chính sách bao vây ngăn chặn kép [double containment] nhắm vào hai nước Iran và Iraq. Tại châu Á, nó đồng nghĩa với ưu thế không bị ai thách thức của Hoa Kỳ, được củng cố bằng một loạt quan hệ an ninh với Nhật Bản, Nam Hàn, Australia, Indonesia, và các đồng minh khác.

Sự dàn xếp này phản ánh thực tế quyền lực lúc bấy giờ, và nó chỉ được vững vàng như các mối quan hệ đang chống đỡ nó mà thôi. Đáng tiếc là, nhiều nhà quan sát đã đồng hóa tình hình địa chính trị tạm thời của thế giới sau Chiến tranh Lạnh với kết quả được coi như là chung cục của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa thể chế dân chủ tự do và chế độ cộng sản Xô-viết. Tuyên bố nổi tiếng của nhà nghiên cứu chính trị Francis Fukuyama, rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh có nghĩa là “cáo chung của lịch sử”, chỉ là một phát biểu về ý thức hệ. Nhưng đối với nhiều người, sự sụp đổ của Liên Xô không những có nghĩa là cuộc đấu tranh ý thức hệ của nhân loại đã chấm dứt vĩnh viễn; họ còn nghĩ rằng bản thân địa chính trị cũng đến hồi chấm dứt vĩnh viễn.

Thoạt nhìn, kết luận này có vẻ là một suy diễn từ lý luận của Fukuyama chứ không phải là một sự bóp méo. Dẫu sao, ý kiến về sự cáo chung của lịch sử đã dựa vào những hậu quả mang tính địa chính trị của những cuộc đấu tranh ý thức hệ kể từ khi triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel lần đầu tiên phát biểu nó vào đầu thế kỷ 19. Đối với Hegel, chính trận Jena, năm 1806, đã hạ màn cuộc chiến giữa các tư tưởng. Theo quan điểm của Hegel, việc Napoleon Bonaparte tiêu diệt toàn bộ quân Phổ trong chiến dịch ngắn ngủi nói trên là chiến thắng của Cách mạng Pháp đối với đội quân tinh nhuệ nhất mà châu Âu tiền-Cách mạng có thể tạo ra. Điều này đã đưa đến một cáo chung cho lịch sử, Hegel lý luận, bởi vì trong tương lai, chỉ có những quốc gia chấp nhận những nguyên tắc và kỹ thuật của nước Pháp cách mạng mới có thể cạnh tranh và tồn tại.

Áp dụng vào thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, lý luận của Hegel được suy diễn là, trong tương lai, các quốc gia sẽ phải chấp nhận những nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản tự do mới theo kịp thời đại. Những xã hội cộng sản khép kín như Liên Xô đã tỏ ra thiếu sáng tạo và kém năng suất, không thể cạnh tranh về kinh tế và quân sự với các quốc gia tự do. Chế độ chính trị của chúng cũng rất khập khễnh, vì không một hình thức xã hội nào khác ngoài thể chế dân chủ tự do mới có thể cung ứng đủ tự do và nhân phẩm cho một xã hội đương thời giữ được ổn định.

Để chống lại phương Tây hữu hiệu, các nước sẽ phải bắt chước phương Tây, và nếu việc này diễn ra, chúng sẽ trở thành một dạng thức xã hội mờ nhạt, chủ hòa, nhu nhược không còn muốn chiến đấu vì bất cứ lý do gì. Mối nguy duy nhất còn sót lại đối với hòa bình thế giới sẽ phát xuất từ các quốc gia côn đồ như Bắc Triều Tiên, và dù những nước này có đủ ý chí để thách thức phương Tây đi nữa, chúng cũng sẽ bị cơ cấu xã hội và chính trị lỗi thời của mình làm cho trở nên què quặt, không thể vượt lên trên mức độ chỉ gây khó chịu cho các nước khác (trừ phi chúng phát triển được vũ khí nguyên tử, hẳn nhiên). Và vì thế, các quốc gia cộng sản cũ, như Nga chẳng hạn, đã đối diện với một lựa chọn. Hoặc là tham gia phong trào hiện đại hóa và trở thành những quốc gia tự do, cởi mở, và chủ hòa, hoặc là cứ bám lấy vũ khí và văn hóa của mình trong khi bị thế giới qua mặt.

Lúc đầu, mọi việc có vẻ diễn ra như thế. Với lịch sử [của cuộc chiến ý thức hệ] chấm dứt, sự tập trung được chuyển từ địa chính trị sang các lãnh vực kinh tế phát triển và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, đồng thời phần lớn chính sách đối ngoại chuyển trọng tâm sang các vấn đề như thay đổi khí hậu và thương mại. Kết hợp sự chấm dứt của địa chính trị với sự cáo chung của lịch sử đã đưa ra một viễn ảnh đặc biệt hấp dẫn đối với Hoa Kỳ: đó là ý tưởng cho rằng Mỹ có thể bắt đầu giảm bớt việc đóng góp vào hệ thống quốc tế mà vẫn thu hoạch nhiều lợi lộc hơn. Mỹ có thể giảm chi tiêu quốc phòng, cắt bớt các ngân khoản của Bộ Ngoại giao, giảm bớt sự hiện diện của mình tại những điểm nóng ở nước ngoài – và thế giới chỉ việc tiếp tục phồn thịnh và tự do hơn.

Viễn kiến này đã từng thu hút cả phe phóng khoáng lẫn phe bảo thủ tại Hoa Kỳ. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton, chẳng hạn, đã cắt giảm ngân sách của cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Ngoại giao và trong tơ tóc đã thuyết phục được Quốc hội tiếp tục đóng lệ phí cho LHQ. Đồng thời, những nhà làm chính sách Mỹ lúc đó đinh ninh rằng hệ thống quốc tế sẽ trở nên vững mạnh hơn và có ảnh hưởng sâu rộng hơn trong khi vẫn đưa đến các lợi ích của Hoa Kỳ. Những chính khách theo chủ nghĩa cô lập mới trong Đảng Cộng hòa (Republican neo-isolationists), như cựu dân biểu Ron Paul từ Bang Texas, đã tranh luận rằng trong tình hình không có những thách thức địa chính trị nghiêm trọng, Hoa Kỳ có thể nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và viện trợ trong khi vẫn tiếp tục hưởng lợi từ hệ thống kinh tế toàn cầu.

Sau Biến cố 9/11, Tổng thống George W. Bush đã đặt cơ sở chính sách đối ngoại trên xác tín là quân khủng bố Trung Đông đã trở thành một kẻ thù đặc biệt nguy hiểm, và Bush phát động điều mà ông cho là một cuộc chiến lâu dài chống lại chúng. Trên một số phương diện, thế giới lại quay về với phạm trù lịch sử đấu tranh. Nhưng tín lý của chính quyền Bush cho rằng thể chế dân chủ có thể dễ dàng được bứng sang  Trung Đông Ả Rập, bắt đầu bằng Iraq, là một bằng chứng về một sự tin tưởng sâu sắc rằng dòng thác biến cố toàn cầu đang diễn ra trong chiều hướng có lợi cho Mỹ.

Tổng thống Barack Obama đã xây dựng chính sách đối ngoại của mình trên xác tín cho rằng “chiến tranh chống khủng bố” đã bị thổi phồng quá đáng, rằng lịch sử [xung đột ý hệ] đã thực sự chấm dứt, và rằng, cũng như trong những năm Clinton cầm quyền, những ưu tiên quan trọng nhất đều liên quan tới việc củng cố trật tự thế giới tự do chứ không phải theo đuổi sách lược địa chính trị cổ điển. Chính quyền này đã minh định một nghị trình cực kỳ tham vọng nhằm yểm trợ trật tự đó: chặn đứng nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân của Iran, giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine, đàm phán một thỏa ước về vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước trên Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, ký kết các hiệp ước kiểm soát vũ khí với Nga, chấn chỉnh lại quan hệ ngoại giao của Mỹ với thế giới Hồi giáo, bênh vực quyền lợi của người đồng tính luyến ái, phục hồi niềm tin của các đồng minh châu Âu, và chấm dứt cuộc chiến tại Afghanistan. Nhưng, đồng thời Obama đã lên kế hoạch nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và giảm bớt sự hiện diện của Mỹ tại những địa bàn chủ yếu trên thế giới, như châu Âu và Trung Đông.

MỘT TRỤC SÂU MỌT?

Tất cả những tin tưởng tốt lành nói trên sắp bị thử thách. Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, dù người ta tập trung chú ý vào sự kèn cựa giữa Liên Âu và Nga về Ukraine, một biến cố đã đưa đến việc Nga chiếm lấy Krym; hay người ta tập trung chú ý vào cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng cường độ giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Á; hay vào cuộc xung đột giáo phái đang bị thu hút vào các tranh chấp quốc tế hay các nội chiến tại Trung Đông, thì người ta vẫn nhận ra rằng càng ngày thế giới càng có vẻ chưa chịu để lại lịch sử đấu tranh ở đằng sau. Trong những cung cách rất khác nhau, với những mục tiêu rất khác nhau, Trung Quốc, Iran, và Nga cùng nhau đẩy lùi giải pháp chính trị của Chiến tranh Lạnh.

Mối tương quan giữa ba cường quốc xét lại này là phức tạp. Trong trường kỳ, Nga lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thế giới quan của Tehran ít có điểm chung với thế giới quan của Bắc Kinh hay của Moskva. Iran và Nga là những nước xuất khẩu dầu và muốn giá dầu cao; Trung Quốc rốt cuộc vẫn là nước tiêu thụ dầu và muốn giá dầu thấp. Bất ổn chính trị tại Trung Đông có thể làm lợi cho Iranvà Nga nhưng lại đặt ra nhiều rủi ro to lớn cho Trung Quốc. Ta không nên nói đến một liên minh chiến lược giữa ba nước này, và qua thời gian, nếu chúng thành công trong việc phá hoại ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực Á Âu, căng thẳng giữa chúng có khả năng sẽ gia tăng chứ không giảm bớt.

Tuy nhiên, điều kết hợp những cường quốc này lại với nhau chính là sự nhất trí rằng nguyên trạng cần phải được xét lại. Nga muốn tái phục hồi Liên Xô được chừng nào hay chừng ấy. Trung Quốc không có ý định tự mãn với một vai trò thứ yếu trong các vấn đề toàn cầu, đồng thời cũng không chấp nhận mức độ ảnh hưởng hiện nay của Hoa Kỳ tại châu Á và nguyên trạng lãnh thổ [the territorial status quo] tại đó. Iran muốn thay thế trật tự hiện nay tại Trung Đông – một trật tự do Ả Rập Saudi lãnh đạo và bị các quốc gia Ả Rập Hồi giáo Sunni khống chế – bằng một trật tự lấy Tehran làm trung tâm.

Lãnh đạo của ba nước này còn nhất trí với nhau rằng quyền lực Mỹ là trở ngại chính cho việc họ thực hiện các mục tiêu xét lại [revisionist goals] của mình. Thái độ thù địch của họ đối với Washington và trật tự mà Mỹ đặt ra có tính vừa công vừa thủ: không những họ hi vọng rằng sự suy yếu của quyền lực Mỹ sẽ làm cho việc lập lại trật tự mới trong khu vực của họ dễ dàng hơn, mà còn lo ngại rằng Washington có thể ra sức lật đổ họ nếu bất bình của người dân trong nước họ gia tăng. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo xét lại này muốn tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, ngoại trừ trong một số trường hợp hiếm hoi khi tình hình hết sức thuận lợi cho họ (như trong vụ Nga xâm lăng Georgia năm 2008 và chiếm đóng rồi sáp nhập Krym năm nay). Thay vì đối đầu trực tiếp với nguyên trạng, họ tìm cách làm sứt mẻ dần dần các qui phạm và các mối quan hệ vốn đang duy trì nó.

Kể từ khi Obama trở thành tổng thống Mỹ, mỗi một trong ba cường quốc này đã theo đuổi một chiến lược riêng biệt tùy theo chỗ mạnh, yếu của mình. Nghịch lý là, Trung Quốc, quốc gia có nhiều tiềm năng to lớn nhất trong bộ ba, đã gặp nhiều trở ngại nhất. Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm quyết đoán chủ quyền của mình trong khu vực chỉ mang đến hậu quả là làm thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đồng minh châu Á và gia tăng cường độ của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản. Tiềm năng của Bắc Kinh càng lớn, thì ý thức về thất bại sẽ càng sâu sắc. Một sự gia tăng sức mạnh từ phía Trung Quốc sẽ gặp phải một sự gia tăng quyết tâm từ phía Nhật Bản, và các căng thẳng tại châu Á sẽ có khả năng lan tràn sang lãnh vực kinh tế và chính trị toàn cầu.

Iran, quốc gia yếu nhất trong bộ ba này căn cứ trên nhiều thước đo, lại đạt nhiều thành tích nhất. Một kết hợp của việc Mỹ xâm lăng Iraq và việc Mỹ sau đó rút quân ra quá sớm đã giúp Tehran hàn gắn các mối quan hệ sâu sắc và bền vững với các trung tâm quyền lực có ý nghĩa ở bên kia biên giới Iraq, một diễn biến đã làm thay đổi cán cân quyền lực giáo phái và chính trị ở trong khu vực. Tại Syria, Iran, với sự trợ giúp của Hezbolla, một đồng minh lâu đời, đã đủ sức đảo ngược tình hình quân sự và chống đỡ được chính phủ của Bashar al-Assad trước sự phản đối mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ. Sự chiến thắng của chính trị thực tế này đã gia tăng quyền lực và uy tín của Iran một cách đáng kể. Khắp Trung Đông, Mùa Xuân Ả Rập đã làm suy yếu các chế độ Hồi giáo Sunni, đẩy thêm cán cân quyền lực về phía có lợi choIran. Iran cũng hưởng lợi nhờ mối chia rẽ ngày càng tăng giữa các chính phủ Sunni về cách họ phải ứng xử với Tổ chức Huynh đệ Hồi giáo và các chi nhánh và thành viên của nó.

Trong khi đó, Nga xuất hiện như một cường quốc xét lại có thành tích trung bình: mạnh hơn Iran và yếu hơn Trung Quốc, thành công hơn Trung Quốc về địa chiến lược nhưng không thành công bằng Iran. Nga đã đạt một số kết quả vừa phải trong nỗ lực ly gián Đức với Hoa Kỳ, nhưng tham vọng của Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc phục hồi Liên Xô cũ đã trở nên khập khiễng do những giới hạn gay gắt của sức mạnh kinh tế nước ông. Để xây dựng một khối Á-Âu thực sự, như Putin mơ ước thực hiện, Nga sẽ phải cung cấp ngân sách cho các cộng hòa Xô-viết cũ – một điều Nga không đủ sức làm.

Tuy nhiên, bất chấp khả năng hạn chế của mình, Putin đã thành công xuất sắc trong việc làm thất bại các dự án của phương Tây trên lãnh thổ Xô-viết cũ. Ông đã chặn đứng NATO ngay trên con đường bành trướng của nó, đưa Armenia vào quĩ đạo của mình, nắm chặt Krym, và, với sự phiêu lưu của ông tại Ukraine, đã giáng một đòn bất ngờ khiến phương Tây cảm thấy bức xúc và nhục nhã. Từ quan điểm của phương Tây, Putin dường như đang đẩy đất nước mình vào một tương lai đen tối hơn bao giờ hết, để trở thành một quốc gia nghèo và đứng bên lề hệ thống quốc tế. Nhưng Putin không tin rằng lịch sử đã chấm dứt, và từ góc nhìn của ông, ông đã củng cố được quyền lực ở trong nước và đã nhắc nhở các cường quốc thù nghịch ở bên ngoài biết rằng con gấu Nga vẫn còn vuốt sắc.

CÁC THẾ LỰC HIỆN NAY

Những cường quốc xét lại này theo đuổi những nghị trình và có những tiềm năng khác biệt nhau đến nỗi không một nước nào trong nhóm này có thể tạo ra một lực chống đối có hệ thống và mang tính toàn cầu như Liên Xô đã làm trước đây. Do đó, người Mỹ đã chậm nhận ra rằng những quốc gia này đã làm lung lay trật tự địa chính trị Á Âu trong những cung cách gây khó khăn cho Mỹ và châu Âu trong nỗ lực xây dựng một thế giới hậu-lịch sử, đôi bên đều có lợi [a post-historical, win-win world].

Tuy vậy, người ta vẫn có thể chứng kiến các hậu quả của hành vi xét lại này ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Đông Á, mặc dù lập trường ngày một quyết đoán của Trung Quốc chưa đạt nhiều tiến độ địa chính trị cụ thể, nhưng trên cơ bản nó đã thay đổi động lực tương tác chính trị trong một khu vực hiện có những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chính trị châu Á ngày nay xoay quanh sự kèn cựa giữa các dân tộc, các đòi hỏi chủ quyền xung đột nhau, các nỗ lực tăng cường hải quân, và các vấn đề lịch sử tương tự. Cuộc phục sinh của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản, một đáp trả trực tiếp đối với nghị trình của Trung Quốc, đã làm phát sinh một tiến trình theo đó chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy ở nước này sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc ở nước kia. Trung Quốc và Nhật Bản đang tăng cường giọng điệu cứng rắn, gia tăng ngân sách quân sự của mỗi bên, khởi động các cuộc khủng hoảng song phương với tần suất cao hơn, và ngày càng tập trung vào cuộc tranh giành có bên thắng bên thua [zero-sum competition].

Mặc dù Liên Âu vẫn còn ở trong những giờ phút hậu-lịch sử [trong quan niệm cho rằng lịch sử đấu tranh ý thức hệ đã hoàn toàn chấm dứt], nhưng những cộng hòa nằm ngoài khối Liên Âu và thuộc Liên Xô cũ lại đang sống trong một thời đại rất khác. Trong vài năm qua, những hi vọng về việc chuyển đổi Liên Xô cũ thành một khu vực hậu-lịch sử đã phai tàn. Việc Nga chiếm Ukraine chỉ là bước mới nhất trong một loạt diễn biến đã biến Đông Âu thành một khu vực xung đột địa chiến lược gay gắt, khiến cho việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ vững chắc và hữu hiệu trở nên khó thực hiện bên ngoài các quốc gia Baltic và Ba Lan.

Tại Trung Đông, tình hình thậm chí còn gay gắt hơn. Những ước mơ rằng thế giới Ả Rập đang tiến đến điểm chuyển đổi sang thể chế dân chủ – những ước mơ đã tạo hình dáng và phẩm chất của chính sách Hoa Kỳ dưới chính quyền Bush lẫn Obama – cũng đã phai tàn. Thay vì xây dựng một trật tự thông thoáng trong khu vực, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ đang phải đối phó với sự tan rã của hệ thống nhà nước đã được khai sinh từ hiệp ước Sykes-Picot năm 1916, một hiệp ước đã chia cắt các vùng trong Đế quốc Ottoma, trong khi việc điều hành quốc gia đang bị xói mòn tại Iraq, Lebanon, và Syria. Obama đã cố gắng hết sức để tách rời vấn đề địa chính trị trong việc Iran bành trướng quyền lực nhanh chóng khắp khu vực khỏi vấn đề nước này phải tuân theo Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí hạt nhân, nhưng những lo lắng của lãnh đạo Israel và Ả Rập Saudi về những tham vọng khu vực của Iran đang làm cho nỗ lực của Obama càng khó thực hiện. Một cản trở khác cho việc đạt được thỏa ước với Iran chính là Nga, một cường quốc đã sử dụng địa vị của mình trong Hội đồng Bảo an LHQ và việc hậu thuẫn cho Assad để đẩy lùi các mục tiêu của Mỹ tạiSyria.

Nga xem ảnh hưởng của mình tại Trung Đông như là một tài sản quan trọng trong cuộc cạnh tranh quyền lực với Mỹ. Điều này không có nghĩa là Moskva sẽ theo phản xạ chống lại các mục tiêu của Mỹ trong mọi trường hợp, nhưng có nghĩa là những kết quả mang lại lợi ích cho cả đôi bên [the win-win outcomes] mà lãnh đạo Mỹ sốt sắng tìm kiếm đôi khi sẽ bị hi sinh vì những lợi ích địa chính trị của Nga. Trong việc quyết định cần phải mạnh tay như thế nào với Nga về vấn đề Ukraine, Nhà Trắng không thể tránh né việc cân nhắc hậu quả đối với lập trường của Nga về cuộc chiến Syria hay về chương trình hạt nhân củaIran. Nga không thể biến mình thành một nước giàu có hơn hay rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay, nhưng nó đã làm cho mình trở thành một yếu tố quan trọng trong tư duy chiến lược của Mỹ, và Nga có thể sử dụng lợi thế này để đòi hỏi các nhượng bộ quan trọng đối với mình.

Nếu những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại này đã thắng thế, thì sức mạnh của những cường quốc muốn duy trì nguyên trạng đã bị xói mòn. Tình trạng suy yếu này diễn ra rõ nét nhất tại châu Âu, nơi mà cái thảm họa không suy giảm của đồng tiền chung đã chia rẽ công luận và buộc Liên Âu phải xoay hướng tập trung vào bên trong. Liên Âu có lẽ đã tránh được hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra của cuộc khủng hoảng đồng euro, nhưng cả ý chí lẫn khả năng để hành động có hiệu quả ở ngoài biên giới của mình đã bị tổn thương đáng kể.

Hoa Kỳ đã không kinh qua một thiệt hại to lớn nào tương tự như nỗi đau kinh tế mà phần lớn châu Âu đã trải qua, nhưng vì Mỹ cũng đang đối diện nhiều vấn đề, gồm cái dư vị trong chính sách đối ngoại do những cuộc chiến của Bush để lại, một nhà nước giám sát ngày càng xâm phạm đời tư công dân, một cuộc hồi phục kinh tế chậm chạp, và một luật cải tổ y tế bị nhiều người chống đối, tâm lý công chúng đã trở nên chán chường. Cả bên cánh Tả lẫn bên cánh Hữu, người Mỹ đang đặt nghi vấn về những lợi ích của trật tự thế giới hiện nay và về khả năng của những kiến trúc sư đã tạo ra nó. Ngoài ra, dân chúng cũng chia sẻ sự đồng thuận của giới cầm quyền rằng trong một thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ nhất định có thể đóng góp ít hơn vào hệ thống quốc tế và rút ra nhiều lợi lộc hơn. Khi điều đó không xảy ra, người dân bèn đổ lỗi cho lãnh đạo. Dẫu sao, người dân Mỹ không còn mấy thiết tha đối với các sáng kiến đồ sộ mới mẻ ở trong cũng như ngoài nước. Một quần chúng yếm thế đang trở nên thờ ơ với một Washington phân cực, bằng một thái độ vừa chán chường vừa khinh bỉ.

Obama lên cầm quyền với kế hoạch cắt giảm chi tiêu quân sự và thu nhỏ tầm quan trọng của chính sách đối ngoại trong chính trị Mỹ trong lúc tăng cường trật tự thế giới tự do. Nhưng hiện nay, hơn nửa đoạn đường trong chức vụ tổng thống, Obama thấy mình bị sa lầy vào chính những hình thức tranh đua địa chính trị mà trước đây ông từng hi vọng có thể vượt qua. Chính sách phục thù của Trung Quốc, Iran, và Nga chưa lật đổ được sự dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh tại khu vực Á Âu, và có lẽ không bao giờ làm được điều này, nhưng nó đã biến một nguyên trạng không tranh chấp [uncontested status quo] thành một nguyên trạng bị tranh chấp. Các tổng thống Mỹ không còn tự do hành động khi họ tìm cách củng cố hệ thống tự do; càng ngày họ càng bận tâm với việc chống đỡ những nền tảng địa chính trị của hệ thống này.

HOÀNG HÔN CỦA LỊCH SỬ

Chính vì cách đây 22 năm Fukuyamađã cho xuất bản cuốn The End of History and the Last Man (Cáo chung của Lịch sử và Con người Cuối cùng) mà người ta có xu thế coi sự tái xuất của địa chính trị là một cách bác bỏ dứt khoát luận thuyết của ông. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Như Fukuyama đã nhắc nhở người đọc, tận cùng của lịch sử là ý kiến của Hegel, và mặc dù loại hình nhà nước cách mạng đã vĩnh viễn chiến thắng loại hình chế độ cũ, Hegel lý luận, cạnh tranh và xung đột sẽ còn tiếp tục diễn ra. Ông tiên đoán rằng những xáo trộn chính trị sẽ xảy ra trong các lãnh thổ, ngay cả khi các vùng trung tâm của văn minh châu Âu đi vào một thời kỳ hậu-lịch sử (post-historical time). Giả dụ các lãnh thổ trong quan niệm của Hegel gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga, chắc chắn người ta sẽ không ngạc nhiên rằng hơn hai thế kỷ sau, những xáo trộn kia vẫn chưa chấm dứt. Chúng ta đang sống trong buổi hoàng hôn của lịch sử chứ không sống vào thời điểm lịch sử đã thật sự cáo chung.

Ngày nay, một quan niệm về tiến trình lịch sử theo kiểu Hegel sẽ cho rằng kể từ đầu thế kỷ 19 đến nay tiến trình này vẫn không mấy thay đổi. Để được hùng mạnh, các quốc gia phải phát triển những tư duy và những định chế có thể cho phép họ sử dụng các lực vô cùng to lớn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và thông tin. Ngoài ra, không còn có một con đường nào khác; xã hội nào không đủ sức hoặc không muốn đi theo con đường này cuối cùng sẽ trở thành kẻ tuân theo mệnh lệnh của lịch sử chứ không thể làm nên lịch sử.

Nhưng con đường dẫn đến thời hậu hiện đại [postmodernity] vẫn còn nhiều gập ghềnh. Để tăng cường quyền lực của mình, Trung Quốc, chẳng hạn, rõ ràng sẽ phải đi qua một tiến trình phát triển kinh tế và chính trị, đòi hỏi nước này phải khắc phục những vấn đề mà các xã hội phương Tây đã và đang đối phó. Nhưng, vẫn không có gì đảm bảo rằng con đường mà Trung Quốc sử dụng để đi tới tình trạng hiện đại tự do và ổn định sẽ ít hỗn độn hơn con đường mà Đức đã đi qua, chẳng hạn. Buổi hoàng hôn của lịch sử không phải là một thời gian yên ắng.

Phần hai cuốn sách của Fukuyama ít được chú ý vì không làm hài lòng người phương Tây. Khi Fukuyama tìm hiểu một xã hội hậu-lịch sử sẽ giống như thế nào, ông đã phát hiện một hình ảnh đáng lo ngại. Trong một thế giới mà những vấn đề lớn đã được giải quyết xong và lãnh vực địa chính trị đã nhường bước cho lãnh vực kinh tế, nhân loại trông sẽ giống như “con người cuối cùng” theo chủ nghĩa hư vô mà triết gia Friedrich Nietzche đã mô tả: đó là người tiêu thụ chỉ biết chăm chút chính mình mà không còn khát vọng nào lớn hơn ngoài chuyến đi mua sắm tiếp theo.

Nói cách khác, những người này sẽ gần giống giới quan liêu châu Âu và giới vận động hành lang tại Washington ngày nay. Họ có thừa khả năng để quản lý công việc của mình trong xã hội hậu-lịch sử, nhưng hiểu được các động cơ và chống lại được những chiến lược của các lãnh đạo chính trị cường quốc kiểu cũ là việc khó đối với họ. Khác với những đối thủ của họ vừa kém năng suất vừa thiếu ổn định, những con người hậu lịch sử không biết hi sinh, chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, dễ dàng bị lung lạc, và thiếu can đảm.

Thực tế của đời sống cá nhân và sinh họat chính trị tại những xã hội hậu lịch sử là rất khác với thực tế tại những nước như Trung Quốc, Iran, và Nga, nơi mà mặt trời lịch sử vẫn đang chiếu sáng. Những xã hội khác biệt này không những đề cao các nhân cách và giá trị khác biệt, mà các định chế của chúng cũng hoạt động kiểu khác và dân chúng ở đó chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng kiểu khác.

Các xã hội gồm toàn những con người cuối cùng của Nietzche có đặc tính là hiểu sai và đánh giá thấp những đối thủ mà họ cho là bán khai trong những xã hội mà họ cho là lạc hậu – một điểm mù có thể, chí ít tạm thời, xoá bỏ những lợi thế khác của nước họ. Trào lưu lịch sử có thể đang chảy không ngừng về hướng thể chế dân chủ tư bản tự do, và mặt trời lịch sử có thể đang thật sự khuất sau những rặng đồi. Nhưng thậm chí khi bóng đêm len xuống và vì sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời thì những nhân vật như Putin vẫn còn sải bước trên sân khấu thế giới. Họ sẽ không nhẹ nhàng đi vào cái đêm an lành kia, mà bằng tất cả cuồng nộ, họ sẽ chống lại sự lụi tắt của ánh sáng.

__________

WALTER RUSSELL MEAD là Giáo sư về Các Vấn đề Đối ngoại và Khoa học Nhân văn tại Đại học Bard và là Cộng tác viên của The American Interest.

2- Lạc quan

Ảo tưởng địa chính trị – Sức mạnh bền vững của trật tự tự do

G. John Ikenberry 

Walter Russell Mead vẽ một bức tranh nhiễu loạn về tình trạng khó xử của Hoa Kỳ trong lãnh vực địa chính trị. Theo quan điểm của ông, một liên minh ngày càng đáng sợ của các cường quốc phi tự do –Trung Quốc, Iran, và Nga – đang quyết tâm phá hoại sự dàn xếp sau Chiến tranh Lạnh và trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo vốn đứng đằng sau sự dàn xếp ấy. Khắp khu vực Á Âu, ông lý luận, nhóm quốc gia thù hận này đang ra sức xây dựng các vùng ảnh hưởng nhằm đe dọa các nền tảng của vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ và trật tự toàn cầu. Vì vậy, Hoa Kỳ cần phải xét lại thái độ lạc quan của mình, gồm sự cả tin phát sinh sau Chiến tranh Lạnh cho rằng các quốc gia đang trỗi dậy bên ngoài phương Tây có thể được thuyết phục gia nhập khối này và chơi theo luật lệ của nó. Theo Mead, đã đến lúc phải đối đầu với những đe dọa từ những kẻ thù địa chính trị ngày càng nguy hiểm này.

Nhưng chủ nghĩa báo động [alarmism] của Mead đặt cơ sở trên một nhận thức sai lầm vô cùng to lớn về thực tế quyền lực hiện đại. Đó là một nhận thức sai lầm về logic và đặc tính của trật tự thế giới hiện hữu, vốn ổn định và có sức bành trướng hơn cách Mead mô tả; nhận thức này đã khiến ông đánh giá quá cao khả năng của “trục sâu mọt” [the axis of weevils] trong việc phá hoại trật tự tự do. Và đó là một nhận thức sai lầm về Trung Quốc và Nga, vốn không phải là những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại trên qui mô lớn, mà bất quá chỉ là những kẻ phá đám bán thời gian [part-time spoilers]; hai nước này cũng nghi ngờ lẫn nhau như họ đang nghi ngờ thế giới bên ngoài. Đúng là, họ tìm cơ hội để chống lại vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ, và gần đây, cũng như trong quá khứ, họ đã cố đẩy lùi vai trò này của Mỹ, đặc biệt khi họ bị đối đầu ngay trong khu vực láng giềng của mình. Nhưng ngay cả những xung đột này cũng được nuôi dưỡng bởi sự yếu kém chứ không bởi sức mạnh của lãnh đạo và chế độ của họ. Những nước này không có một thương hiệu hấp dẫn nào đối với thế giới. Và khi cần theo đuổi những lợi ích quan trọng hàng đầu của mình, Nga và, đặc biệt là, Trung Quốc lại sẵn sàng hội nhập sâu đậm vào nền kinh tế thế giới và các định chế điều hành nó.

Mead còn mô tả sai lạc đặc tính cốt lõi của chính sách đối ngoại Mỹ. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Mead lý luận, Hoa Kỳ đã bỏ qua những vấn đề địa chính trị liên quan đến lãnh thổ và các vùng ảnh hưởng và thay vào đó đã quá lạc quan khi tập trung vào việc xây dựng trật tự toàn cầu. Nhưng đây là một phân tích sai lạc, bằng cách chẻ đôi vấn đề thành hai phần tương khắc. Hoa Kỳ không tập trung vào những vấn đề liên quan đến trật tự toàn cầu, như kiểm soát vũ khí và mậu dịch, chỉ vì họ cho rằng xung đột địa chính trị đã chấm dứt vĩnh viễn; sở dĩ họ theo đuổi những nỗ lực này chính vì họ muốn quản lý sự cạnh tranh giữa các đại cường. Nỗ lực xây dựng trật tự toàn cầu không đặt cơ sở trên sự cáo chung của địa chính trị; mục đích của nó là làm thế nào để giải quyết các vấn đề to lớn trong lãnh vực địa chính trị.

Thật vậy, việc xây dựng một trật tự toàn cầu do Hoa Kỳ lãnh đạo không bắt đầu với sự cáo chung của Chiến tranh Lạnh; chính nó đã giành thắng lợi trong Chiến tranh Lạnh cho phương Tây. Trong gần 70 năm kể từ Thế chiến II chấm dứt, Washington đã theo đuổi những nỗ lực bền bỉ trong việc xây dựng một hệ thống rộng lớn gồm những định chế đa phương, những liên minh, những thỏa ước mậu dịch, và những đối tác chính trị. Dự án này đã giúp thu hút nhiều nước vào quĩ đạo của Hoa Kỳ. Nó đã giúp tăng cường các qui phạm và luật lệ toàn cầu, làm suy giảm tính chính đáng của các vùng ảnh hưởng kiểu thế kỷ 19, chặn đứng các mưu đồ thống trị khu vực và chiếm đoạt lãnh thổ [của chủ nghĩa thực dân]. Và dự án này đã mang lại cho Hoa Kỳ những tiềm năng, những đối tác, và những nguyên tắc để đối đầu với những đại cường phá hoại và theo chủ nghĩa xét lại ngày nay, như đang diễn ra. Các liên minh, các đối tác, chủ nghĩa đa phương, thể chế dân chủ – đây chính là những công cụ trong vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ, và chúng đang thắng, chứ không phải đang thua, trong những cuộc đấu tranh về địa chính trị và trật tự thế giới của thế kỷ 21.

NGƯỜI KHỔNG LỒ QUÂN TỬ

Năm 1904, nhà nghiên cứu địa lý Anh Halford Mackinder đã viết rằng đại cường nào kiểm soát được vùng trung châu của khu vực Á Âu thì sẽ thống lĩnh luôn “Đảo Thế giới này” và nhờ đó thống lĩnh toàn thế giới. Trong quan điểm của Mead, khu vực Á Âu đã tái xuất hiện như một giải thưởng vĩ đại trong lãnh vực địa chính trị. Khắp những vùng xa xôi của siêu lục địa này, ông lý luận, Trung Quốc, Iran, và Nga đang tìm cách thiết lập vùng ảnh hưởng của mình và thách đố các lợi ích của Mỹ, dần dà nhưng không ngớt toan tính thống trị khu vực Á Âu và vì thế đe dọa Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới.

Viễn kiến này không nắm bắt được một thực tế sâu sắc hơn. Trong các vấn đề địa chính trị (chưa nói đến các lãnh vực dân số, chính trị và tư tưởng), Hoa Kỳ có một lợi thế quyết định so với Trung Quốc,Iran, và Nga. Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ không còn ở điểm đỉnh bá quyền mà họ chiếm giữ trong thời kỳ đơn cực [the unipolar era], quyền lực Mỹ vẫn còn là vô địch. Sự giàu có và các lợi thế công nghệ của Hoa Kỳ vẫn còn nằm ngoài tầm với của Trung Quốc và Nga, đừng nói chi đếnIran. Kinh tế Mỹ đang phục hồi, được các nguồn khí đốt thiên nhiên khổng lồ mới khai thác tiếp sức, cho phép Hoa Kỳ duy trì một sự hiện diện quân sự toàn cầu và các cam kết an ninh đáng tin cậy.

Thật vậy, Washington thừa hưởng một khả năng độc đáo trong việc chinh phục bạn bè và ảnh hưởng lên các quốc gia. Theo một nghiên cứu do nhà chính trị học Brett Ashley Leeds hướng dẫn, Hoa Kỳ có đối tác quân sự với hơn 60 nước, trong khi Nga đếm được tám đồng minh chính thức và Trung Quốc chỉ vỏn vẹn có một mà thôi (Bắc Triều Tiên). Như một nhà ngoại giao Anh đã nói với tôi cách đây dăm bảy năm, “Trung Quốc không tỏ ra muốn lập các liên minh.” Nhưng Hoa Kỳ muốn làm điều này, và các liên minh này đã mang đến hai mối lợi cùng một lúc: không những chúng cung cấp một bệ phóng cho quyền lực toàn cầu của Mỹ, mà còn phân phối gánh nặng duy trì an ninh với các đồng minh. Các tiềm năng quân sự tích lũy trong hệ thống liên minh do Mỹ lãnh đạo này đã vượt hẳn lên trên bất cứ sức mạnh nào mà Trung Quốc hoặc Nga có thể tạo ra trong nhiều thập kỷ tới.

Lại còn có vấn đề vũ khí hạt nhân. Những vũ khí này, cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Nga đều có (và Iran đang theo đuổi), sẽ giúp cho Hoa Kỳ theo hai cách sau đây. Một, nhờ cái logic hai bên chắc chắn có thể hủy diệt lẫn nhau [mutual assured destruction], sự thủ đắc vũ khí hạt nhân sẽ cực kỳ giảm bớt khả năng đưa đến chiến tranh giữa các đại cường. Các đại loạn thuộc loại này đã từng tạo cơ hội cho các đại cường trong quá khứ, kể cả Hoa Kỳ trong Thế chiến II, củng cố trật tự quốc tế của mình. Nhưng thời đại hạt nhân đã cướp mất của Trung Quốc và Nga cơ hội này. Hai, vũ khí hạt nhân cũng làm cho Trung Quốc và Nga cảm thấy an toàn hơn, giúp họ yên chí rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ xâm lăng họ. Đó là điều tốt, vì nó giảm bớt khả năng họ sẽ dùng đến những nước cờ tuyệt vọng, phát sinh từ bất ổn, có nguy cơ đưa đến chiến tranh và phá hoại trật tự tự do.

Vị trí địa lý còn tăng cường các lợi thế khác của Hoa Kỳ. Là đại cường duy nhất không bị các đại cường khác vây quanh, Hoa Kỳ tỏ ra ít đe dọa đối với các quốc gia khác và nhờ đó có thể trỗi dậy nhanh chóng trong thế kỷ trước mà không kích nổ một cuộc chiến tranh. Sau Chiến tranh Lạnh, trong giai đoạn Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất trên thế giới, các cường quốc toàn cầu khác, ở bên kia đại dương, thậm chí đã không toan tính quân bình lực lượng với Mỹ. Trên thực tế, vị trí địa lý cô lập của Hoa Kỳ đã khiến các quốc gia khác lo ngại bị bỏ rơi hơn là bị khống chế. Các đồng minh của Mỹ tại châu Âu, châu Á, và Trung Đông đã tìm cách lôi kéo Hoa Kỳ vào việc đóng một vai trò to lớn hơn trong khu vực của mình. Việc này đưa đến cái mà Geir Lundestad gọi là “một đế quốc do mời gọi”.

Lợi thế địa lý của Hoa Kỳ được phơi bày trọn vẹn tại châu Á. Hầu hết mọi quốc gia tại đây đều coi Trung Quốc là một mối nguy tiềm năng lớn hơn Hoa Kỳ – vì Trung Quốc nằm sát bên cạnh, nếu không phải một lý do khác. Ngoài Hoa Kỳ ra, mọi cường quốc chính trên thế giới đều sống trong một khu láng giềng địa chính trị chen chúc, tại đó những chuyển dịch quyền lực thường xuyên kích động các nỗ lực đối trọng [provoke counterbalancing] – kể cả giữa họ với nhau. Trung Quốc hiện đang phát hiện động lực tương tác này khi các quốc gia láng giềng phản ứng lại sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách hiện đại hóa quân đội và tăng cường các liên minh của mình. Nga biết điều này từ nhiều thập kỷ nay, và gần đây nhất đã đối diện thực tế tại Ukraine, một quốc gia trong những năm gần đây đã gia tăng chi tiêu quân sự và theo đuổi các quan hệ gần gũi hơn với EU.

Tính cô lập địa lý còn cho Hoa Kỳ lý do để cổ vũ các nguyên tắc phổ quát cho phép họ tiếp cận nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Từ lâu, Hoa Kỳ vốn là nước theo đuổi chính sách mở cửa và nguyên tắc dân tộc tự quyết, đồng thời chống lại chủ nghĩa thực dân – vì lý tưởng thì ít, mà vì những lý do thực tiễn thì nhiều, trong nỗ lực biến châu Âu, châu Á, và Trung Đông thành những khu vực cởi mở đối với thương mại và ngoại giao. Vào những năm cuối của thập niên 1930, câu hỏi chủ yếu đối với Hoa Kỳ là, Mỹ sẽ cần đến một không gian địa chính trị, hay “đại địa bàn” rộng lớn bao nhiêu để tồn tại như một đại cường trong một thế giới gồm những đế quốc, những khối liên minh khu vực, và những vùng ảnh hưởng. Thế chiến II đã cho một câu trả lời rõ ràng: sự phồn thịnh và an ninh của nước Mỹ tuỳ vào khả năng tiếp cận với mọi khu vực. Và trong những thập niên tiếp theo, với một vài ngoại lệ nghiêm trọng và gây tổn thất, như Chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã theo đuổi những nguyên tắc hậu đế quốc [postimperial principles].

Chính trong những năm hậu chiến này, địa chính trị và nỗ lực xây dựng trật tự thế giới đã hòa nhập vào nhau. Một khuôn khổ quốc tế tự do là câu trả lời mà các chính khách tài ba như Dean Acheson, George Kennan, và George Marshall đã đưa ra trước sự thách thức của chủ nghĩa bành trướng Xô-viết. Hệ thống mà họ xây dựng đã gia tăng sức mạnh và làm giàu cho Hoa Kỳ và các đồng minh, gây tổn thất cho các địch thủ phi tự do [illiberal opponents] của nó. Hệ thống này còn ổn định được kinh tế thế giới và thiết lập các cơ chế để đối phó với các vấn đề toàn cầu. Sự cáo chung của Chiến tranh Lạnh không hề thay đổi cái logic từng chống đỡ dự án này.

May mắn là, những nguyên tắc tự do mà Washington thúc đẩy có sức thu hút gần như phổ quát, vì chúng có xu thế là rất phù hợp với các lực hiện đại hóa của việc tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Như sử gia Charles Maier viết, Hoa Kỳ đã cỡi được cơn sóng hiện đại hóa của thế kỷ 20. Nhưng một số học giả lại tranh luận rằng sự phù hợp giữa dự án của Mỹ và các lực hiện đại hóa đã giảm bớt trong những năm gần đây. Theo quan niệm này, cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử thế giới, theo đó Hoa Kỳ đã đánh mất vai trò tiên phong trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.

Nhưng thậm chí nếu điều này có thực sự xảy ra đi nữa, người ta vẫn không suy diễn rằng Trung Quốc và Nga đã thay thế Hoa Kỳ cầm cờ đi tiên phong trong mặt trận kinh tế toàn cầu. Ngay cả Mead cũng không tranh luận rằng Trung Quốc, Iran, và Nga có thể cống hiến cho thế giới một mô hình mới về tính hiện đại. Nếu những cường quốc phi tự do này muốn thật sự đe dọa Washington và phần còn lại của thế giới tư bản tự do, thì họ cần phải phát hiện được đợt sóng hiện đại hóa vĩ đại sắp đến và phải cỡi lên nó. Họ không có khả năng làm điều này.

SỰ TRỖI DẬY CỦA DÂN CHỦ

Viễn kiến của Mead về một cuộc đọ sức tại khu vực Á Âu giữa một bên là Hoa Kỳ và bên kia là Trung Quốc, Iran, và Nga đã bỏ qua một chuyển đổi quyền lực sâu sắc hơn đang diễn ra: sự vươn dậy ngày một lớn mạnh của thể chế dân chủ tư bản tự do. Đành rằng, nhiều nước dân chủ tự do ở thời điểm này đang vật lộn với tăng trưởng kinh tế chậm chạp, bất bình đẳng xã hội, và bất ổn chính trị. Nhưng sự bành trướng của thể chế dân chủ tự do khắp thế giới, bắt đầu cuối thập niên 1970 và tăng tốc sau Chiến tranh Lạnh đã nhanh chóng tăng cường địa vị của Hoa Kỳ và thắt vòng vây địa chiến lược quanh Trung Quốc và Nga.

Người ta dễ dàng quên rằng trước đây thể chế dân chủ hãy còn rất hiếm hoi. Mãi đến Thế kỷ 20, thể chế này chỉ có ở phương Tây và một số nước châu Mỹ La tinh. Nhưng sau Thế chiến II, nó bắt đầu vượt ra ngoài biên giới của những khu vực này, khi những quốc gia mới được độc lập dựng nên chế độ tự trị. Trong những thập niên 1950, 1960, và đầu thập niên 1970, các cuộc đảo chính quân sự và các nhà độc tài mới đã kềm hãm tiến trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ. Nhưng vào cuối thập niên 1970, cái mà nhà nghiên cứu chính trị Samuel Huntington gọi là “đợt sóng dân chủ hóa thứ ba” đã tràn qua miền Nam châu Âu, Châu Mỹ La tinh, và Đông Á. Tiếp đến, Chiến tranh Lạnh kết thúc, và một loạt gồm các quốc gia cộng sản trước đó tại Đông Âu được đưa vào nếp sống dân chủ. Vào cuối thập niên 1990, 60 phần trăm toàn thể các nước trên thế giới đã trở thành các quốc gia dân chủ.

Mặc dù có tình trạng thoái trào diễn ra tại một số quốc gia, nhưng xu thế có ý nghĩa hơn lại là sự xuất hiện một nhóm các cường quốc dân chủ bậc trung, gồm Australia, Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Nam Hàn, và Thổ Nhĩ Kỳ. Những cường quốc dân chủ mới trỗi dậy này đang đóng vai trò những thành viên có trách nhiệm [stakeholders] trong hệ thống quốc tế: đẩy mạnh hợp tác đa phương, theo đuổi những quyền lợi và trách nhiệm lớn hơn, và thể hiện ảnh hưởng của mình thông qua các phương tiện hòa bình.

Những nước nói trên tăng thêm trọng lượng địa chính trị của trật tự thế giới tự do. Như nhà nghiên cứu chính trị Larry Diamond nhận xét, nếu Argentina, Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi, và Thổ Nhĩ Kỳ lấy lại thế đứng kinh tế và tăng cường chế độ dân chủ của mình, thì Nhóm G-20, trong đó có cả Hoa Kỳ và các nước châu Âu, “sẽ trở thành một ‘câu lạc bộ dân chủ’ hùng mạnh, chỉ có Nga, Trung Quốc, và Ả Rập Saudi còn bám víu mà thôi.” Sự trỗi dậy của một tầng lớp trung lưu toàn cầu gồm các quốc gia dân chủ sẽ biến Trung Quốc và Nga thành những kẻ đứng ngoài – chứ không phải là những đối thủ chính đáng trong việc tranh giành vai trò lãnh đạo toàn cầu, như Mead lo ngại.

Trên thực tế, sự trỗi dậy của làn sóng dân chủ đã trở thành vấn đề nghiêm trọng cho cả Nga lẫn Trung Quốc. Tại Đông Âu, các quốc gia và các chư hầu Xô-viết cũ đã theo thể chế dân chủ và gia nhập phương Tây. Mặc dù các nước cờ của Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Crimea là đáng lo ngại, nhưng chúng phản ánh thế yếu chứ không phải thế mạnh địa chính trị của Nga. Trong hai thập kỷ vừa qua, phương Tây đã dần dần tiến tới gần biên giới Nga. Năm 1999, Cộng hòa Séc, Hungary, và Ba Lan gia nhập NATO. Năm 2004 có thêm bảy thành viên của khối Xô-viết cũ nối đuôi những nước này để gia nhập NATO, và năm 2009 Albania và Croatia cũng làm như thế. Trong khi đó, có thêm sáu cộng hòa Xô-viết cũ đã đi theo con đường dẫn đến địa vị thành viên của NATO bằng cách tham gia chương trình Đối tác vì Hòa bình của khối này. Mead chú trọng quá nhiều vào những thành công của Putin tại Georgia, Armenia, và Crimea. Tuy nhiên, dù Putin đang thắng vài trận nhỏ, ông lại đang thua một cuộc chiến. Nga không ở trong thế đi lên; trái lại, Nga đang trải qua một trong những mất mát địa chính trị lớn nhất so với bất cứ cường quốc quan trọng nào trong thời hiện đại.

Thể chế dân chủ cũng đang bao vây Trung Quốc. Vào giữa thập kỷ 1980, chỉ có Ấn Độ và Nhật Bản là những nước dân chủ duy nhất tại châu Á, nhưng sau đó, Indonesia, Mongolia, Philippines, Nam Hàn, Đài Loan, và Thái Lan đã gia nhập câu lạc bộ này. Gần đây Myanma (còn gọi là Miến Điện) đã thực hiện những bước dè dặt tiến tới chế độ đa đảng – việc này đã diễn ra đồng bộ với những quan hệ đang trở nên nồng ấm với Hoa Kỳ, điều mà Trung Quốc không thể không để ý. Trung Quốc đang sống trong một khu vực gồm tuyệt đại đa số láng giềng theo dân chủ.

Những chuyển đổi chính trị nói trên đã đặt Trung Quốc và Nga vào thế thủ. Bây giờ xin xét đến các diễn biến gần đây tại Ukraine. Những động thái kinh tế và chính trị trong đại bộ phận nước này đang hướng về phương Tây một cách không khoan nhượng, một xu thế đang làm Putin hoảng sợ. Ông chỉ còn trông cậy vào sức mạnh cơ bắp để o ép Ukrainevào thế chống lại EU và ở lại trong quĩ đạo của Nga. Mặc dù Putin có thể đủ sức kềm kẹp Crimea dưới quyền kiểm soát của mình, nhưng nắm tay bấu víu của ông trên phần còn lại của Ukraine đang tuột dần. Như nhà ngoại giao EU, ông Robert Cooper, đã nhận xét, Putin có thể cố gắng làm trì hoãn cái thời điểm Ukraine “liên minh với EU, nhưng ông ta không thể chặn đứng được việc này.” Thật vậy, thậm chí Putin không có khả năng thể hiện sự trì hoãn này, vì những nước cờ khiêu khích của ông có thể chỉ thúc nhanh chuyển động của Ukraine hướng về châu Âu.

Trung Quốc cũng đối diện một nan đề tương tự tại Đài Loan. Các lãnh đạo Trung Quốc thực tâm tin rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng người Đài Loan không nghĩ như vậy. Cuộc chuyển đổi dân chủ trên đảo này đã khiến những đòi hỏi độc lập quốc gia của người dân trở nên vừa bức thiết vừa chính đáng hơn. Một thăm dò năm 2011 cho thấy rằng nếu người Đài Loan có thể được trấn an là Trung Quốc sẽ không tấn công Đài Loan, 80% dân chúng đảo này sẽ ủng hộ việc tuyên bố độc lập. Cũng như Nga, Trung Quốc muốn duy trì quyền kiểm soát địa chính trị đối với các nước láng giềng. Nhưng sự bành trướng của thể chế dân chủ đến mọi khu vực tại châu Á đã khiến Bắc Kinh chỉ còn cách duy nhất là áp đặt ách thống trị lỗi thời [old-fashioned domination] để đạt mục tiêu địa chiến trị của mình, và phương án này là rất tốn kém và tự chuốc lấy thất bại.

Trong khi sự trỗi dậy của các quốc gia dân chủ gây nhiều khó khăn cho Trung Quốc và Nga, thì sự thể này lại giúp thế giới trở nên an toàn hơn trước mắt Hoa Kỳ. Hai cường quốc nói trên được coi là đối thủ của Hoa Kỳ, nhưng sự cạnh tranh đã diễn ra trên một sân chơi rất gập ghềnh đối với họ: Hoa Kỳ có nhiều nước bạn nhất, và cũng là những nước bạn có khả năng nhất. Ngân sách quốc phòng của Washington và đồng minh của Mỹ chiếm đến 75 phần trăm chi phí quân sự toàn cầu. Tiến trình dân chủ hóa [tại khu vực Á Âu] đã nhốt Trung Quốc và Nga trong một chiếc hộp địa chính trị.

Iran không bị các nước dân chủ bao vây, nhưng nó bị đe dọa bởi một phong trào đòi hỏi dân chủ đầy bất ổn ở trong nước. Nghiêm trọng hơn nữa, Iran là thành viên yếu kém nhất trong trục [xét lại] của Mead, với một nền kinh tế và một lực lượng quân sự nhỏ bé hơn nhiều so với Hoa Kỳ và hai đại cường kia. Iran còn là mục tiêu của một chế độ trừng phạt quốc tế mạnh mẽ nhất từ trước tới nay mà LHQ có thể huy động được, nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc và Nga. Chính sách ngoại giao đối với Iran của chính quyền Obama có thể thành công hoặc không thành công, nhưng một chính sách khác theo ý Mead để ngăn chặn nước này thủ đắc vũ khí hạt nhân thì lại không rõ ràng. Đường lối của Tổng thống Mỹ Barack Obama có ưu điểm là đưa ra một lộ trình theo đó Tehran có thể chuyển đổi từ một cường quốc khu vực thù nghịch thành một thành viên phi hạt nhân có tinh thần xây dựng của cộng đồng quốc tế – một nước có tiềm năng thay đổi trò chơi địa chính trị mà Mead không đánh giá cao.

XÉT LẠI CHỦ NGHĨA XÉT LẠI

Không những Mead đánh giá thấp sức mạnh của Hoa Kỳ và trật tự mà nó đã xây dựng; ông còn cường điệu mức độ mà Trung Quốc và Nga đang ra sức chống lại hai đối tượng này. (Gác tham vọng hạt nhân qua một bên, Iran trông giống một quốc gia đang thực sự kháng cự thì ít mà vô vọng phản đối thì nhiều, vì thế ta không nên coi Iran có địa vị gần như một cường quốc xét lại [a revisionist power].)  Rõ ràng là, Trung Quốc và Nga mong muốn bành trướng ảnh hưởng trong khu vực. Trung Quốc đã đưa ra các đòi hỏi hung hăng về chủ quyền trên biển và các đảo tranh chấp gần bờ, đồng thời lao vào việc tăng cường sức mạnh vũ khí. Putin có viễn kiến khôi phục lại địa vị bá quyền của Nga đối với “những nước lân cận”. Cả hai đại cường này đang hung hăng giận dữ trước địa vị lãnh đạo của Hoa Kỳ và sẵn sàng chống lại nó khi họ có thể.

Nhưng Trung Quốc và Nga không hẳn là những cường quốc xét lại. Như cựu Bộ trưởng Ngoại giao Israel, ông Shlomo Ben-Ami, từng nói, chính sách đối ngoại của Putin “phản ánh sự căm phẫn của Putin về việc Nga bị cho ra bên lề địa chính trị hơn là tiếng hò reo xung trận của một đế quốc đang trỗi dậy.” Hẳn nhiên, Trung Quốc mới thực là một cương quốc đang trỗi dậy, và điều này đã cám dỗ Trung Quốc vào một cuộc đọ sức nguy hiểm với các đồng minh của Hoa Kỳ tại châu Á. Nhưng hiện nay, Trung Quốc không ra sức phá vỡ những liên minh này của Mỹ hay lật đổ cái hệ thống quản trị an ninh khu vực rộng lớn hơn, hiện thân trong các tổ chức như Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hay Thượng đỉnh Đông Á. Và thậm chí nếu Trung Quốc nuôi tham vọng cuối cùng sẽ làm điều này đi nữa, các đối tác an ninh của Mỹ trong khu vực ít ra cũng đang trở nên mạnh hơn, chứ không yếu hơn chút nào. Tối đa, Trung Quốc và Nga chỉ là những kẻ phá đám. Họ không có những lợi ích – xin đừng nói đến tư duy, khả năng, hay đồng minh – thúc đẩy họ lật đổ những luật lệ và định chế toàn cầu đang có.

Trên thực tế, mặc dù Trung Quốc và Nga phẫn nộ vì Hoa Kỳ đứng đầu hệ thống địa chính trị hiện nay, nhưng họ chấp nhận cái logic chủ yếu của khuôn khổ này, và chấp nhận với lý do chính đáng. Sự cởi mở cho phép họ tiếp cận thương mại, đầu tư, và công nghệ từ các xã hội khác. Luật lệ cung cấp họ công cụ để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia. Mặc dù có các tranh cãi về sáng kiến mới là “trách nhiệm bảo hộ” (một nguyên tắc chỉ được áp dụng một cách có chọn lọc gần đây), trật tự thế giới hiện nay vẫn tôn trọng các qui phạm lâu đời về chủ quyền quốc gia và nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ nước khác. Những nguyên tắc này của Hiệp ước Westphalia vẫn là nền tảng của chính trị thế giới – vì thế Trung Quốc và Nga đã ràng buộc lợi ích quốc gia mình với chúng (mặc dù Putin có chủ trương phục hồi lãnh thổ đang gây ra tình trạng nhiễu loạn).

Vì vậy, ta không nên ngạc nhiên là Trung Quốc và Nga đã hội nhập sâu sắc vào trật tự quốc tế hiện nay. Cả hai đều là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, với quyền phủ quyết, và cả hai đều tham gia tích cực vào Tổ chức Thương mại Thế giới, Quĩ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và Nhóm G-20. Họ là những cường quốc địa chính trị trong hệ thống, ngồi ở chiếu trên trong việc quản trị toàn cầu.

Trung Quốc, mặc dù trỗi dậy nhanh chóng, nhưng không có một nghị trình toàn cầu đầy tham vọng nào cả; họ vẫn tập trung vào công việc nội bộ, quyết duy trì chế độ đảng trị. Một số trí thức và nhân vật chính trị, như Diêm Học Thông (Yan Xuetong) và Chu Thành Hổ (Zhu Chenghu), thực sự theo đuổi một danh mục gồm các mục tiêu xét lại. Họ coi hệ thống phương Tây như một mối đe dọa và đang chờ đợi cái ngày mà Trung Quốc có thể tổ chức lại trật tự quốc tế. Nhưng những tiếng nói này không lọt vào tai tầng lớp lãnh đạo chính trị ở chóp bu. Thật vậy, các lãnh đạo Trung Quốc không còn muốn theo đuổi những hiệu triệu mà họ đưa ra trước đây về một cuộc thay đổi sâu rộng. Năm 2007, tại một hội nghị Ủy ban Trung ương, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thay thế những đề xuất trước đó về một “trật tự kinh tế quốc tế mới” bằng lời kêu gọi đòi hỏi những cải tổ khiêm tốn hơn tập trung vào công bằng và công lý. Học giả Trung Quốc Vương Tập Tư (Wang Jisi) đã lý luận rằng động thái này là “tinh tế nhưng quan trọng,” đưa định hướng của Trung Quốc tiến gần tới định hướng của một nhà cải cách toàn cầu. Hiện nay Trung Quốc muốn giữ một vai trò lớn hơn tại Quĩ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, muốn có một tiếng nói lớn hơn trong những diễn đàn như G-20, và muốn thấy đồng Nhân dân tệ được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Đó không phải là nghị trình của một nước đang cố gắng xét lại trật tự kinh tế.

Trung Quốc và Nga còn là những thành viên có uy tín trong câu lạc bộ hạt nhân. Đặc điểm quan trọng nhất của cuộc dàn xếp trong thời Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô (và sau này với Nga) là nỗ lực chung của hai nước nhằm giới hạn vũ khí hạt nhân. Mặc dù quan hệ Mỹ-Nga đã xấu đi từ đó, nhưng yếu tố hạt nhân trong dàn xếp này vẫn được duy trì. Năm 2010, Moskva vàWashingtonđã ký kết Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược mới nhất (New START), đòi hỏi hai bên cùng cắt giảm vũ khí hạt nhân tầm xa.

Trước thập niên 1990, Trung Quốc là kẻ đứng ngoài câu lạc bộ hạt nhân này. Mặc dù Bắc Kinh có một kho vũ khí hạt nhân khiêm tốn, nhưng họ tự coi mình là một tiếng nói của thế giới đang phát triển phi hạt nhân (the nonnuclear developing world) và lên tiếng chỉ trích các hiệp ước kiểm soát vũ khí và cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Nhưng bằng một thay đổi ngoạn mục, sau đó Trung Quốc đã quay qua ủng hộ một loạt hiệp định về vũ khí hạt nhân, gồm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và Hiệp ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân toàn diện. Trung Quốc đã khẳng định một lý thuyết “không ra tay trước trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân”, duy trì một kho vũ khí hạt nhân nhỏ, và đưa toàn bộ lực lượng hạt nhân của mình ra khỏi tình trạng báo động. Trung Quốc còn đóng một vai trò tích cực trong Hội nghị thượng đỉnh về an ninh hạt nhân, một sáng kiến do Obama đề xuất năm 2009, và Trung Quốc đã tham gia “tiến trình P5”, một nỗ lực hợp tác [giữa năm hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ và cũng là năm cường quốc hạt nhân] để bảo đảm an toàn vũ khí hạt nhân.

Qua một loạt vấn đề rộng lớn, Trung Quốc và Nga đang hành xử như những đại cường có địa vị ổn định hơn là những đại cường xét lại. Họ thường tìm cách tránh né các giải pháp đa phương, nhưng thỉnh thoảng chính Hoa Kỳ và các cường quốc dân chủ khác cũng làm như vậy. (Bắc Kinh đã phê chuẩn Công ước LHQ về Luật Biển; nhưng Washington thì chưa.) Và hiện nay, Trung Quốc và Nga đang sử dụng luật lệ và định chế toàn cầu để thúc đẩy lợi ích của mình. Những xung đột với Hoa Kỳ xoay quanh việc Trung Quốc và Nga muốn có tiếng nói mạnh hơn trong trật tự hiện hữu và tìm cách vận dụng trật tự này sao cho phù hợp với nhu cầu của mình. Mặc dù hai cường quốc này muốn tăng cường địa vị của mình trong hệ thống, nhưng hiện nay họ không tìm cách thay thế hệ thống này.

TIẾP TỤC NẰM TRONG HỆ THỐNG

Cuối cùng, thậm chí nếu Trung Quốc và Nga có toan tính bác bỏ những điều cơ bản của trật tự toàn cầu hiện nay, thì sự mạo hiểm này sẽ chỉ làm họ nản chí và chuốc lấy thất bại mà thôi. Những cường quốc này không những sẽ chống lại một mình Hoa Kỳ, mà họ còn phải đương đầu với một trật tự có tổ chức và kiên cố nhất toàn cầu mà thế giới chưa từng biết đến trước đây, một trật tự được ngự trị bởi những quốc gia theo chế độ tự do, tư bản, và dân chủ. Trật tự này được hậu thuẫn bởi một mạng lưới do Hoa Kỳ lãnh đạo gồm các liên minh, các định chế, các mặc cả địa chính trị, các quốc gia lệ thuộc, và các đối tác dân chủ. Trật tự này tỏ ra năng động và có sức bành trướng, dễ dàng kết nạp những quốc gia đang trỗi dậy, bắt đầu bằng Nhật Bản và Đức sau Thế chiến II. Trật tự này chứng tỏ có khả năng chấp nhận một lãnh đạo chung [shared leadership], chẳng hạn như trong các diễn đàn như G-8 và G-20. Nó cho phép các nước nằm ngoài phương Tây trao đổi thương mại và tăng trưởng kinh tế, chia sẻ các lợi ích của việc hiện đại hóa. Nó đáp ứng nhu cầu của nhiều mô hình chính trị và kinh tế khác nhau đến mức độ ta phải ngạc nhiên – dân chủ xã hội (Tây Âu), tân tự do (Vương quốc Anh và Hoa Kỳ), và tư bản nhà nước (Đông Á). Sự phồn thịnh của gần như mọi nước – và sự ổn định của chính phủ họ – trên cơ bản dựa vào trật tự này.

Trong thời đại của trật tự tự do, những vùng vẫy của các thế lực xét lại chỉ là công khó dã tràng. Thật ra, Trung Quốc và Nga đều biết rõ điều này. Họ không có những viễn kiến tầm cỡ để tìm ra một trật tự khác thay thế. Đối với những cường quốc này, các quan hệ quốc tế chủ yếu nhắm vào việc tìm kiếm thương mại và tài nguyên, bảo vệ chủ quyền của mình, và, nơi nào có thể, bá quyền khu vực. Họ chưa từng chứng tỏ có ý muốn xây dựng trật tự riêng cho mình hay thậm chí chấp nhận đầy đủ trách nhiệm đối với trật tự hiện nay và chưa từng đưa ra các viễn kiến thay thế về tiến bộ kinh tế hay chính trị toàn cầu. Đó là một khuyết điểm nghiêm trọng, vì các trật tự quốc tế thịnh và suy không chỉ vì quyền lực của quốc gia dẫn đầu; sự thành công của chúng còn tùy thuộc vào việc chúng có được coi là có chính nghĩa hay không và hoạt động cụ thể của chúng có giải quyết những vấn đề mà các quốc gia yếu cũng như mạnh đều quan tâm hay không. Trong cuộc đấu tranh vì trật tự thế giới, Trung Quốc và Nga (và chắc chắn Iran) giản dị là những kẻ đứng ngoài.

Trong tình huống này, Hoa Kỳ không nên từ bỏ các nỗ lực tăng cường trật tự tự do. Thế giới mà người Mỹ đang sống hôm nay là một thế giới mà họ phải hân hoan đón chào. Và đại chiến lược [grand strategy] mà Washington phải theo đuổi chính là cái đại chiến lược mà họ từng theo đuổi hàng chục năm nay: một dấn thân toàn cầu sâu đậm [deep global engagement]. Đấy là một chiến lược theo đó Hoa Kỳ tự ràng buộc mình với các khu vực trên thế giới thông qua thương mại, thông qua các liên minh quân sự, các định chế đa phương, và chính sách ngoại giao. Đấy là một chiến lược theo đó Hoa Kỳ thiết định được quyền lãnh đạo không những thông qua việc sử dụng quyền lực mà còn thông qua các nỗ lực bền bỉ nhắm vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu và làm ra luật lệ. Chiến lược này đã tạo được một thế giới thân thiện đối với những lợi ích của Mỹ, và thế giới trở nên thân thiện chính vì, như Tổng thống John F. Kennedy từng nói, đó là một thế giới ‘trong đó kẻ yếu hưởng được an toàn và kẻ mạnh tôn trọng công lý.”

G. J. I.

G. John Ikenberry là Giáo sư Chính trị học và Các Vấn đề Quốc tế tại Đại học Princeton và là Giáo sư Thỉnh giảng tại Trường Balliol, Đại học Oxford.