VĨNH BIỆT ANH CHÍNH – THẦY PHAN ĐỨC CHÍNH CỦA TÔI

Ẩn sau những lời gan ruột mà anh Chính dành cho tôi là quan niệm của anh về lẽ khôn dại, về chuyện tử tế ở đời. 

VĨNH BIỆT ANH CHÍNH – THẦY PHAN ĐỨC CHÍNH CỦA TÔI

Rạng sáng nay 26/8/2017, có trời đất chứng giám, tôi bỗng mơ về anh Chính, về những lời từ đáy lòng mà anh nói với tôi, và về tôi, trong cuộc gặp mặt thường niên ngày 30/12/2011 của Bộ môn Giải tích, tại một nhà hàng trên đường mang tên Giáo sư Lê Văn Thiêm, người sáng lập khoa Toán, Đại học Tổng hợp, nay là Đai học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, nơi tôi là sinh viên từ 1971 đến 1976, và là giảng viên từ 1976 cho tới nay. 

Năm 1976, tôi 22 tuổi, được giữ lại trường làm giảng viên, lúc ấy chưa có Bộ môn Đại số-Hình học-Tôpô. Được Giáo sư quyền Chủ nhiệm Khoa Toán, Hoàng Hữu Như, giao cho nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu Hình học-Tôpô, tôi được tạm biên chế về Bộ môn Giải tích. Đó là một bộ môn huyền thoại, ra đời từ ngày thành lập Đại học Tổng hợp Hà Nội 1956, được dẫn dắt bởi Giáo sư Lê Văn Thiêm, người đã từ bỏ ghế giáo sư tại đại học ETH Zürich Thuỵ Sĩ lừng danh, về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, và về sau Bộ môn được dẫn dắt bởi các Giáo sư Phan Đức Chính (giải tích hàm), Hoàng Hữu Đường (phương trình vi phân), Nguyễn Thừa Hợp, Phạm Ngọc Thao (phương trình đạo hàm riêng), Nguyễn Thuỷ Thanh (hàm phức)… Tôi làm việc tại Bộ môn Giải tích trong 2 năm, cho đến khi Bộ môn Đại số - Hình học – Tôpô được thành lập năm 1978. Image preview

Thầy Phan Đức Chính sinh năm 1936, tuổi Bính Tí, là giảng viên Khoa Toán-Cơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội từ ngày đại học này được thành lập 1956. Thầy bảo vệ Tiến sĩ tại đại học Lomonosov (Moskva) dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Shilov giữa thập niên 1960. Luận án của thầy được viết thành một sách chuyên khảo của hai tác giả Phan Đức Chính và Shilov. Thành tích ấy ít ai theo kịp. 

Gia đình thầy Phan Đức Chính gốc gác ở Hà Nội. Ông cụ thân sinh ra thầy là một công chức Nha Khí tượng, thời trẻ được phân bổ làm việc tại Cà Mau, vì thế thầy được sinh ra tại Sài Gòn. Khi thầy lớn lên, gia đình về sống tại Hà Nội, thầy học trường Albert Sarraut, một trong những trường trung học nổi tiếng nhất Đông Dương, thu nhận học sinh người Pháp và con em các quan chức cao cấp người Việt, Miên, Lào. Khả năng tiếng Pháp của thầy Chính được bộc lộ qua câu chuyện sau đây. Tháng 10/1974, một nhóm các nhà Toán học từ Pháp tới Hà Nội giảng về Lý thuyết kỳ dị trong một tháng, bao gồm B. Malgrange, F. Phạm, A. Chenciner. Một số nhà toán học gạo cội của Việt Nam được phân công ghi lại những bài giảng này bằng tiếng Pháp, bổ sung, giải thích cặn kẽ, biến mỗi bài giảng thành một cuỗn sách… Chừng nửa năm sau, bản thảo các cuốn sách được đưa lại cho những người giảng rà soát. Được biết, những nhà toán học Pháp đặc biệt ấn tượng về một văn phong Pháp hàn lâm trong cuốn sách do thầy Chính ghi. 

Thầy nghỉ hưu đã lâu. Vài năm nay, thầy theo con trai vào sống ở Sài Gòn. 

Thời sinh viên, tôi không được học giờ nào với thầy Phan Đức Chính. Thầy chỉ hỏi thi (vấn đáp) tôi một lần, môn Giải tích (hàm nhiều biến), dịp sau Tết 1973; thầy cho tôi điểm tối đa. Dạo ấy thầy Phạm Ngọc Thao dạy chúng tôi môn này, chủ yếu theo cuốn “Calculus on Manifolds” của Michael Spivak, một cuốn sách đẹp và khó.

Sở dĩ tôi dám gọi thầy Chính bằng anh, không phải vì thói “gần chùa gọi Bụt bằng anh”, mà vì trong lớp tôi, K16 Toán - Cơ Đại học Tổng hợp Hà Nội có bạn Phan Thu Hương là em ruột của thầy. Hồi mới ra trường, 1976, Hương dạy Toán ở Đại học Công An (C500, Hà Đông). Sau, Hương theo chồng (nhà toán học Nguyễn Tố Như, một học trò cũ của thầy Phan Đức Chính) sang Mỹ, rồi định cư ở đó.

Tối Thứ Sáu 12/5/2017, lớp K16 chúng tôi liên hoan ở Hồ Tây, nhân dịp Phan Thu Hương từ Mỹ về chơi. Tôi hỏi Hương về tình hình thầy Chính. Hương cho biết: "Anh Chính gần đây bị phát hiện ung thư họng và vòm miệng, đã sang Singapore khám. Bệnh viện Singapore xác định bệnh đã ở giai đoạn muộn. Gia đình và bác sĩ hội ý và quyết định chủ yếu dùng thuốc để nâng sức khoẻ cho anh Chính, không dùng các liệu pháp công phạt".

*
*     *

Mấy năm gần đây, Bộ môn Giải tích có truyền thống tổ chức cuộc gặp mặt thường niên, vào cuối mỗi năm.  Thỉnh thoảng Bộ môn Giải tích có mời tôi, một trong những thành viên cũ của của bộ môn, dự cuộc gặp mặt đó. 

Hôm ấy là ngày 30/12/2011. Những thành viên xưa và nay của bộ môn Giải tích ngồi chật hai dãy bàn tiệc, một bàn gồm những bậc lão thành và một bàn gồm những thành viên trẻ. Tôi, tự nhận mình thuộc “phái trẻ”, vả lại ý thức rằng tương lai của bộ môn Giải tích nằm trong tay những bạn này, cho nên tôi chọn chỗ ngồi ở “bàn trẻ”. Một lúc sau, anh Chính cầm ly whisky tới, nhập vào  bàn chúng tôi.

Anh Chính hỏi tôi: “Hưng, dạo này cậu có gì mới không?” Thành thực mà nói, tôi chưa hiểu anh Chính hỏi tôi về chuyện gì. Tôi nói: “Em vẫn bình thường. Nhưng em không rõ anh muốn hỏi em về khía cạnh nào?” Anh Chính vẻ hơi phật ý, vì có thế mà tôi chưa hiểu ý anh, vẫn từ tốn, anh nói: “Dạo này, cậu có kết quả khoa học nào mới không?” Trời ạ, quả tình tôi bị bất ngờ. Tôi cứ nghĩ anh Chính “rửa tay gác kiếm” đã lâu. Chuyện đời anh không bàn nữa. Nào ngờ không phải vậy. Tôi thưa với anh Chính: “Em viết bài khá vất vả. Mỗi năm em cố gắng viết một bài, công bố ở một tạp chí tử tế. Em cố gắng giữ được đều như thế.” Anh Chính bảo: “Thế thì tốt”. 

Rồi trầm ngâm nhìn ly whisky vàng óng, từ nhiều năm nay đó là nguồn năng lượng chủ yếu mà anh Chính thu nạp vào tấm thân nhàu nát của mình, anh Chính chậm dãi, gần như là độc thoại: "Hưng ạ, cậu không ở lại Mỹ mà về Việt Nam là hết sức sai lầm, và vô cùng đúng đắn". Trời ơi, đấy là lời độc thoại của một trong những bậc thầy về logic học. 

Quay sang đám trẻ, anh Chính bảo: "Ai sẽ là người phát huy truyền thống của Bộ môn Giải tích? Nguyễn Hữu Việt Hưng đây này". Ngừng một lát, anh Chính nói: "Tôi học cụ Nguyễn Tuân mà nói rằng Nguyễn Hữu Việt Hưng là một người tử tế". 

Có cái gì như một dòng điện chạy dọc sống lưng tôi. Tôi hạnh phúc và không dám chờ đợi mình được khen nhiều như thế. Hôm nay, tôi hơi xấu hổ khi nhắc lại những lời khen hào phóng mà anh Chính dành cho tôi. Có anh và nhiều bạn trẻ trong Bộ môn Giải tích chứng giám, tôi đã thuật lại nguyên văn lời anh. 

Ẩn sau những lời gan ruột mà anh Chính dành cho tôi là quan niệm của anh về lẽ khôn dại, về chuyện tử tế ở đời. 

Hôm nay, không bất ngờ, nhưng đau đớn nghe tin anh Chính đã thành người thiên cổ, tôi viết mấy dòng này bái vọng anh. 

Anh Chính ơi, vĩnh biệt.