RSS

Các bài sưu tầm từ Internet và các nguồn khác

Cách đây 40 năm, vị Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội - tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội hôm nay, là Giáo sư Vật lý học Ngụy Như Kontum.

Trí thức lỏng

Nhà văn Nguyễn Hiếu

Thế hệ trên dưới 60 được xem như thế hệ bắt đầu của một nền giáo dục dưới chính thể mới. Dạo đó không ít các nhà quản lý giáo dục hể hả tuyên bố một câu xanh rờn” chúng ta tự hào khi có thể giảng dậy tiếng Việt trên bục trường đại học”. Hậu quả của sự tự mãn quá lớn này đã để lại hậu quả là hầu hết các trí thức của ta được đào tạo trong nứoc từ năm 1954 đổ lại đây đều không xử dụng thành thạo nổi một ngoại ngữ. Điều này làm ta chạnh lòng khi nghĩ đến thế hệ cha ông ta thời Pháp chỉ mới ở trình độ sơ học yếu lựơc – tương đương lớp 5 hiện nay đã có thể nói và đọc tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ. Nhưng thôi, tạm coi hiện trạng mù ngoại ngữ này như một tồn tại lịch sử của một thời ấu trĩ trong giáo dục. Còn hiện nay trong xu thế người ta thích tự hào, kiêu hãnh, thích lập kỉ lục ở nhiều lĩnh vực nên Việt nam ta trong một vài năm gần đây thường oang oang những danh từ tự phong như “cường quốc thế giới về đóng tàu” khi Vinasin chưa bị đổ bể. Rồi gần đây các nhà quản lý văn nghệ lại hào phóng hô to” Việt nam ta là cường quốc thơ “khi phong trào nhà nhà, phố phố, ngưòi ngưòi làm thơ dẫn đến tình trạng lạm phát thơ.

Trở lại lĩnh vực giáo dục. Gần đây các nhà quản lý ngành này lại kiêu hãnh khoe “Việt nam là quốc gia đứng đầu Đông nam Á về số lưộng giáo sư, tiến sĩ”. Tinh sơ sơ Việt nam ta hiện nay với gần 90 triệu dân thì đã có tới 24000 tiến sĩ , 9000 giáo sư. Nếu chia bình quân số ngưòi có học vị này so với thế giới thì quả là đáng tự hào. Nhưng đáng buồn thay sau con số hoành tráng các nhà trí thức có học vị này là cả một thực tế thê thảm về trình độ học vấn của Việt nam ta cũng như trình độ thực của các nhà trí thức nứơc ta. Theo con số được công bố thì Việt nam có tới gần 400 trường đại học, cao đẳng thuộc các ngành nghề , các viện tương đương …nhưng tệ hại thay không có trường nào lọt vào danh sách 500 trường đại học nghiêm chỉnh và danh giá trên thế giới. Đã gọi là các nhà trí thức có học vị cỡ tiến sĩ, giáo sư thì tiêu chuẩn đầu tiên là bài báo, công trình công trình nghiên cứu khoa học hàng năm và qui chuẩn nhất là các nghiên cức này được đăng kí bằng sáng chế tại Mỹ. Tình hình nay ở Việt nam ta ra sao?. Với 33 nghìn vị trí thức có học vị giáo sư, tiến sĩ đó nhưng giai đoạn từ 2000 đến 2006 nứơc ta vẻn vẹn có 19 bằng sáng chế. Giai đoạn từ 2007 đến 2010 Việt nam chỉ còn 5 bằng sáng chế. Năm 2011 với xấp xỉ 90 triệu dân, 33000 giáo sư, tiến sĩ thì số bằng sáng chế của Việt nam ta  đăng kí tại Mỹ lại là còn số không tròn trĩnh. Cũng trong năm 2011 này chưa nói đến các nứơc có trình độ kinh tế hiện đại, trí thức tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc… Mà chỉ so sánh với các quốc gia trong khu vực thì Đài Loan với 23 triệu dân có tới 8781 bằng sáng chế, Israel vẻn vẹn 7,3 triệu dân đã đăng kí 1981 bằng sáng chế. Còn các nứơc vùng Đông Nam Á thì năm 2011 cũng là năm bội thu về số lượng bằng sáng chế đăng kí tại Mỹ. Singapo với 4,8 triệu dân có tới 647 bằng. Malaixia với 27,9 triệu dân có 161 bằng, Thái Lan với 68,1 triệu dân có 53 bằng….

Nguyên nhân của thực trạng đáng buồn này do đâu ? Nứơc ta hiện nay ra ngõ không chỉ gặp nhà thơ mà còn gặp một vị tiến sĩ hay giáo sư. Nhưng trong 33000 giáo sư tiến sĩ đó thì có đến hơn 70 % không dính dáng gì đến nghiên cứu khoa học, thậm chí cả đời không viết một bài báo nào có tính khoa học. Đa số các vị có bằng cấp này đều làm chức vụ hành chính. Ông Phạm Bích San Tổng thư kí Các hội khoa học, kĩ thuật Việt nam đã ngao ngán nhận xét”chúng ta gần như không có ai có nghiệp khoa học…quên mình vì khoa học được ghi nhận bằng các giải thưởng quốc tế tầm cỡ”. Hình như sau hàng loạt nghị quyết khuyến khích hình thức về bằng cấp đã khiến cho thị trường bằng cấp thật giả càng có đà phát triển. Người ta tìm mọi cách để có được tấm bằng học vị làm điểm tựa tiến thân thay vì xả thân cho sự đào tạo, rèn luyện nghiêm chỉnh. Trên danh thiếp, trong lời giới thiệu người ta xính và coi như mốt thời thượng giới thiệu học vị đi liền với chức sắc. Những vụ phát giác ông thứ trưởng, ông giám đốc sở, ông vụ trưởng nọ kia dùng bằng giả… đã trở thành phổ biến ở nứơc ta. Phải chăng chính sự yếu kém của các nhà trí thức Việt nam như vậy nên chẳng những nền giáo dục nứơc ta đang là một nền giáo dục yếu kém, nhiều bất cập nhất mà Việt Nam cũng là một quốc gia có vị trí thấp trong thang bậc trí tuệ toàn cầu ( hạng 76 trên 141 quốc gia được đưa vào xếp hạng).

Nghĩ lại một thời không xa trí thức thế giới nghiêng mình khâm phục  trí tuệ và công trình của những nhà trí thức lớn của Việt nam như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng .. Chúng ta càng lo lắng khi căn bệnh trí thức lỏng của nứơc ta vẫn ngày càng phát triển và chưa có biện pháp nào hữu hiệu ngăn chặn.

Nguyễn Hiếu

                 Ảo tưởng về sức mạnh Trung quốc

Sự thông thái qui ước cho rằng cỗ xe khổng lồ Trung Quốc không thể bị chặn lại, và thế giới phải điều chỉnh theo thực tế của người khổng lồ Á châu này, với tư cách là một cường quốc thế giới. Những nhà tiên tri về sự nổi lên của Trung Quốc đã xuất hiện từ nhiều thập kỷ vừa qua. Họ đều tô vẽ hình ảnh của thế giới vào thế kỷ thứ 21 với Trung Quốc là một tác nhân thống soái. Sự tin tưởng này là một điều có thể hiểu được, và rất phổ biến; nhưng thực ra, đó là một sai lầm.

Chúng ta hãy nhớ lại cách đây không lâu lắm, vào những năm 1980, người ta cũng tiên đoán là Nhật Bản sẽ là "số một" và tham gia vào Câu lạc bộ các đại cường, trước khi Nhật Bản chìm vào ba thập kỷ suy thoái, và cho thấy rằng họ chỉ là một cường quốc có một chiều không gian (kinh tế), và không có một nền tảng rộng lớn mang đặc tính quốc gia để dựa vào. Trước đó, Liên Xô cũng được gọi là một siêu cường thế giới (một giả định đã gây ra cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài nửa thế kỷ). Để rồi siêu cường này sụp đổ nhanh chóng vào năm 1991. Nghiên cứu sau này cũng cho thấy Liên Xô chỉ là cường quốc có một chiều không gian (quân sự), đã bị ngạt thở từ nhiều thập kỷ. Sau Chiến tranh Lạnh, một số học giả cho rằng Liên minh Châu Âu, sau khi được mở rộng và củng cố, sẽ nổi lên như một đại cường mới, và là một cực của hệ thống quốc tế. Nhưng Châu Âu chỉ cho thấy họ bất lực và không có khả năng trước nhiều thách thức toàn cầu. Châu Âu cũng tự phơi mình như cường quốc một chiều không gian (kinh tế). Do đó khi bàn tới Trung Quốc hiện nay, người ta nên điềm tĩnh và bi quan hơn một chút.

Chắc chắn Trung Quốc là một cường quốc đang nổi lên quan trọng nhất của thế giới, vượt xa các quốc gia khác như Ấn Độ, Brazil hay Nam Phi. Và trong một số phương diện, Trung Quốc đã vượt qua một số cường quốc hạng trung như Nga, Nhật, Anh, Pháp, Đức. Theo nhiều thước đo, Trung Quốc đã trở thành cường quốc lớn thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ, và về một số phương diện, họ đã vượt qua người Mỹ. Trung Quốc có nhiều nhân tố để trở thành cường quốc thế giới: Một dân số đông nhất thế giới, một diện tích lục địa lớn, một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một quĩ dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, một ngân sách quốc phòng lớn thứ hai trên thế giới, một chương trình không gian, một mẫu hạm, một viện bảo tàng lớn nhất thế giới, một đập thuỷ điện lớn nhất thế giới, một hệ thống xa lộ lớn nhất thế giới, và một hệ thống đường xe lửa cao tốc tốt nhất thế giới. Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu về mậu dịch quốc tế, là người tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới, là người phát sinh ra nhiều nhất các loại khí thải gây ảnh hưởng nhà kính, là quốc gia đứng hàng thứ hai về nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và là quốc gia đứng hàng thứ ba về đầu tư ra nước ngoài (ODI- Oversea Direct Investment). Và là nước sản xuất nhiều nhất thế giới về nhiều loại hàng hoá.

Tuy thế, khả năng sản xuất chỉ là một chỉ số về sức mạnh của một quốc gia, và trên trường quốc tế; và không phải là chỉ số quan trọng nhất. Nhiều thế hệ các học giả xã hội học đã xác định được chĩ số quan trọng nhất của sức mạnh quốc gia là ảnh hưởng đối với nước khác. Đó là khả năng định hình các sự kiện và hành động của các quốc gia khác. Như học giả nổi tiếng Robert Dahl đã nhận xét: " A có quyền lực trên B khi có khả năng xui khiến B làm chuyện gì đó mà B không thể làm khác được". Các khả năng không được chuyển đổi thành hành động để đạt một số mục đích nào đó, thì không có giá trị gì nhiều. Sự hiện diện của các khả năng này có thể tạo ra ảnh hưởng đe doạ hay choáng ngợp lên người khác. Nhưng chỉ có khả năng ảnh hưởng lên hành động của người khác, hay lên kết quả của một sự kiện mới là điều đáng kể. Dỉ nhiên có nhiều cách thức mà các quốc gia có thể sử dụng để ảnh hưởng tới hành động của nước khác, hay tới diễn biến của một sự kiện: lôi kéo, chinh phục bằng ngôn từ, hợp tác, ép buộc, chi tiền, lôi cuốn hay đe doạ dùng vũ lực. Sức mạnh và sự thực hiện nó có quan hệ nội tại tự có. Sự sử dụng những phương tiện này nọ đối với kẻ khác để có thể ảnh hưởng lên tình hình có lợi cho bản thân họ.

Khi chúng ta khảo sát sự hiện diện của Trung Quốc và cách hành xử của họ trên thế giới ngày nay, chúng ta cần bỏ qua những nét gây ấn tượng bề ngoài và tự hỏi: " Liệu ngày nay Trung Quốc có được ảnh hưởng lên các quốc gia và lên quĩ đạo các sự kiện quốc tế trong các lãnh vực khác nhau? Câu trả lời ngắn gọn là: "Không nhiều lắm, nếu không nói là chẳng có gì cả".

Có rất ít các lãnh vực mà người ta có thể nói Trung Quốc thực sự có ảnh hưởng lên các quốc gia khác, tạo ra tiêu chuẩn toàn cầu hay định hình khuynh hướng toàn cầu. Họ cũng không cố gắng giải quyết các vấn đề quốc tế. Trung Quốc là một cường quốc thụ động, phản ứng của họ là né tránh những thách thức, và lẩn trốn khi có cuộc khủng hoảng quốc tế xảy ra. Các cuộc khủng hoảng hiện nay ờ Syria và Ukraina là những ví dụ điển hình vế tính thụ động của Bắc Kinh.

Hơn thế nữa, nếu khảo sát kỹ hơn về các khả năng của Trung Quốc, người ta thấy chúng không mạnh lắm. Nhiều chỉ số cho thấy đầy ấn tượng về mặt số lượng, nhưng không ấn tượng vế chất lượng. Chính vì thiếu sức mạnh chất lượng mà Trung Quốc thiếu ảnh hưởng thực sự. Người Trung Quốc có câu thành ngữ "wai ying, nei ruain" (cứng ngoài, mềm trong). Đó chính là tính chất của Trung Quốc ngày nay. Nếu lục lọi các con số thống kê đầy ấn tượng về Trung Quốc, bạn sẽ thấy những yếu kém tràn lan, những khó khăn quan trọng, và nền tảng yếu kém để trở thành đại cường thế giới. Trung Quốc có thể là con hổ giấy của thế kỷ thứ 21.

Điều này co thể được cảm nhận trong 5 lãnh vực: Chính sách ngoại giao quốc tế của Trung Quốc, khả năng quân sự, hiện diện văn hoá, sức mạnh kinh tế và các yếu tố nội địa làm giảm vị trí của Trung Quốc trên trường thế giới. Chúng ta sẽ xem xét từng khía cạnh.

1. Chính sách ngoại giao

Về nhiều khía cạnh, chính sách ngoại giao của Trung Quốc đã mang tính chất toàn cầu. Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã đi từ tình trạng bị cô lập đối với cộng đồng quốc tế, và trở thành một thành viên của cộng đồng quốc tế. Ngày nay, Bắc Kinh có quan hệ ngoại giao với 175 nước; Trung Quốc trở thành thành viên của hơn 150 tổ chức quốc tế, và tham gia hơn 300 hiệp ước đa phương. Mỗi năm, Bắc Kinh tiếp đón nhiều chính khách nước ngoài hơn hẳn các quốc gia khác, và các nhà lãnh đạo Trung Quốc đi ra nước ngoài đều đặn.

Mặc dù hội nhập vào cộng đồng quốc tế, và chính sách ngoại giao tích cực của Bắc Kinh, lãnh vực ngoại giao chính là chỗ cho thấy Bắc Kinh chỉ giữ vai trò cường quốc bán phần một cách rõ nhất. Một mặt, Trung Quốc được coi là biểu hiệu của một đại cường thế giới; Họ là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, thành viên của nhóm G-20, và là người tham gia vào các hội nghị quốc tế thượng đỉnh quan trọng. Mặt khác, các viên chức Trung Quốc vẫn còn rụt rè và thụ động trong các hoạt động này, và trước những thách thức mang tính toàn cầu. Trung Quốc không lãnh đạo, họ cũng không định hình nền ngoại giao quốc tế, không hướng dẫn chính sách ngoại giao của nước khác, không thành lập được những đồng thuận toàn cầu, không thành lập được liên minh để giải quyết vấn đề.. Bắc Kinh không chủ động tham gia giải quyết những vấn đề lớn của thế giới, mà ngược lại, họ tỏ ra thụ động và hay phân vân khi tham gia vào những nỗ lực đa phương do nước khác tổ chức (thường là do Hoa Kỳ tổ chức).

Là cường quốc thế giới, bạn phải tham gia giải quyết các vụ tranh chấp, mang mọi phe phái ngồi lại với nhau, thành lập liên minh và đưa ra đồng thuận; và khi cần tới, cũng phải dùng áp lực. Bắc Kinh thích ngồi bên lề và chỉ giản dị kêu gọi các nước khác giải quyết tranh chấp bằng các "biện pháp hòa bình", và tìm ra giải pháp "cùng thắng". Những ngôn từ trống rỗng đó không giúp giải quyết được gì cả. Bắc Kinh cũng dị ứng với những biện pháp áp đặt, và chỉ đi theo những biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo an LHQ, khi tình hình cho thấy rõ rệt là nếu không làm như vậy, Bắc Kinh sẽ bị cô lập, và hình ảnh quốc tế của Bắc Kinh sẽ bị hoen ố. Đó không phải là cách hành xử của một quốc gia lãnh đạo thế giới.

Thực thế, chính sách ngoại giao của Bắc Kinh thực sự là màn tuồng trình diễn, chỉ mang tính tượng trưng hơn là có nội dung. Chúng có mục đích hàng đầu là củng cố tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quần chúng trong nước; bằng cách cho thấy các nhà lãnh đạo Trung Quốc vai kề vai với các nhà lãnh đạo thế giới. Cùng lúc báo hiệu cho cộng đồng thế giới là đất nước đã trở lại vị trí đại cường sau nhiều thế kỷ bất lực. Vì thế, chính phủ Trung Quốc đã cố dàn xếp, kéo dài mang đầy kịch tính những cuộc gặp gỡ quan khách quốc tế. Mặc dù vậy, nền ngoại giao Trung Quốc cố tránh rủi ro, và nằm dưới sự dẫn dắt của quyền lợi quốc gia thiển cận. Bắc Kinh bình thường chọn những giải pháp có mẫu số chung thấp nhất, chọn lựa những vị trí an toàn nhất, ít gây tranh cãi nhất, và họ thường chờ đợi thái độ của các quốc gia khác trước khi bộc lộ quan điểm của mình.

Tính chất thụ động này có những ngoại lệ, nằm trong các vấn đề được coi là quyền lợi cốt lõi và hạn hẹp của họ: Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, nhân quyền và tranh chấp lãnh thổ. Trong những vấn đề này, Bắc Kinh tỏ ra siêu cứng rắn, và có chính sách ngoại giao áp chế. Nhưng những nỗ lực để bảo vệ quyền lợi của họ thường tỏ ra vụng về và phản tác dụng cho hình ảnh và mục đích của họ. Ngoài việc bảo vệ các quyền lợi quốc gia thiển cận, chính sách ngoại giao của họ tỏ ra thụ động cùng cực, đối với một đất nước to lớn và quan trọng như vậy.

Khi bàn tới việc quản trị thế giới, việc này đòi hỏi phân phối ngân sách tùy theo khả năng tổng thể của mỗi quốc gia, cách hành xử của Bắc Kinh bình thường mang tình tiêu cực, và đầu óc thiển cận trong ngoại giao. Trung Quốc có đóng góp trên nhiều vấn đề quản trị thế giới: Các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, hoạt động chống cướp biển vùng vịnh Eden, các biện pháp chống khủng bố ở Trung Á, viện trợ phát triển cho nước ngoài, chống sự phổ biến vũ khí hạt nhân, y tế công, cứu trợ thiên tai, và chống tội phạm quốc tế. Trong những lãnh vực này, Bắc Kinh có đóng góp xứng đáng. Tuy nhiên, Trung Quốc nên làm và có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nhưng họ "đấm boxe" dưới trọng lượng của họ, vì không đóng góp tỷ lệ với tầm vóc của sự giàu có, hay ảnh hưởng tiềm ẩn của họ. Thế giới nên trông đợi và đòi hỏi Trung Quốc đóng góp nhiều hơn nữa.

Tại sao chính sách ngoại giao quản trị thế giới của Trung Quốc lại bị gò bó như vậy? Có ba lý do chính:

Thứ nhất, có sự bi quan sâu xa ở trong nội bộ Trung Quốc về những ý tưởng tự do và về quan điểm cơ bản trong quản trị thế giới. Họ nghĩ đó là những cái "bẫy" cuối cùng do Phương Tây lập ra (nhất là Hoa Kỳ) để làm chảy máu Trung Quốc khi đề nghị Trung Quốc can thiệp vào những cuộc khủng hoảng và những nơi mà Trung Quốc không có quyền lợi trực tiếp. Như thế sẽ làm phân tán nguồn lực, và ngăn cản "sự nổi lên" của Trung Quốc.

Thứ hai, người dân Trung Quốc sẽ phê phán chính phủ Trung Quốc phân tán của cải ra nước ngoài, trong khi ở trong nước vẫn còn nhiều nhu cầu khẩn cấp.

Thứ ba, Trung Quốc có một phương án tiếp cận mang tính "đổi chác", để mở rộng nỗ lực, nhất là khi liên quan tới tiền bạc. Điều này bắt nguồn từ văn hóa thương mại, nhưng được nới rộng ra cho nhiều lãnh vực trong cách hành xử của Trung Quốc. Người Trung Quốc muốn biết chính xác họ sẽ được lợi cái gì, và khi nào, từ những dịch vụ đầu tư nào đó. Như thế, quan niệm toàn bộ về hoạt động từ thiện, và đóng góp bất vụ lợi cho phúc lợi quần chúng rất xa lạ đối với lối suy nghĩ của Trung Quốc.

Kết quả là trong lãnh vực ngoại giao - quản trị song phương, đa phương và toàn cầu- Bắc Kinh đã cho thấy sự thụ động rõ rệt và ngập ngừng tham gia. Họ còn lâu mới trở thành người "stakeholder" (người nắm cổ phần) có trách nhiệm như Robert Zoellick kêu gọi vào năm 2005. Ngoại giao của Bắc Kinh giữ nguyên tính chất ích kỷ, thiển cận, và sự tham gia của họ vào chính sách quản trị toàn cầu là tối thiểu và mang tính chất chiến thuật, chứ không phải là mang tính cách tiêu chuẩn và chiến lược. Tính chất thực sự của ngoại giao Trung Quốc là kinh doanh. Hãy coi kỹ những phái đoàn tháp tùng Chủ tịch nước hay Thủ tướng của Trung Quốc đi ra nước ngoài, người ta thấy có rất nhiều CEO của các công ty, đi tìm nguồn cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, cơ hội mậu dịch hay đầu tư. Chính sách ngoại giao trọng thương như vậy không giúp cho Bắc Kinh được sự kính nể của thế giới, và thực ra thì đã có sự phê phán và thầm thì khắp thế giới. (Nhất là ở châu Phi và châu Mỹ La tinh).

2. Sức mạnh quân sự

Khả năng quân sự của Trung Quốc là một lãnh vực khác cho thấy tính chất đại cường bán phần của nước này. Họ ngày càng trở thành cường quốc khu vực, nhưng không bao giờ là cường quốc mang tính toàn cầu. Trung Quốc không có khả năng viễn phóng sức mạnh quân sự của họ ra khỏi vùng phụ cận ở châu Á (hỏa tiễn đạn đạo liên lục địa, chương trình không gian, và khả năng chiến tranh mạng). Và ngay cả với châu Á, khả năng viễn phóng sức mạnh (mang quân ra nước ngoài) cũng bị giới hạn, mặc dù có tăng lên. Không ai chắc chắn là Trung Quốc có khả năng triển khai sức mạnh 500 dặm (800 km) xa hơn biên giới của họ (Ví dụ tại Biển Hoa Đông và Hoa Nam). Và có thể chịu đựng đủ lâu dài để chiến thắng trong tranh chấp. Lực lượng quân sự của họ không có kinh nghiệm chiến trường, họ không có chiến tranh từ năm 1979 (chiến tranh biên giới Việt Nam).

Chắc chắn là Trung Quốc đã hiện đại hóa quân đội từ 25 năm qua. Hiện nay ngân sách quốc phòng của họ đứng thứ hai trên thế giới (131.6 tỉ USD cho năm 2014). Họ có đạo quân thường trực lớn nhất thế giới, chế tạo nhiều vũ khí tối tân, một hải quân ngày càng du hành xa bờ hơn nữa ở miền Tây Thái Bình Dương, đôi khi qua tới Ấn Độ Dương, và một tầu sân bay hiện đại. Do đó, quân đội Trung Quốc không dễ bị đánh bại. Chắc chắn nó có đủ sức để bảo vệ Tổ quốc, và có thể gây chiến thành công với Đài Loan (Nếu không có sự can thiệp nhanh chóng của Hoa Kỳ). Trung Quốc được nhìn nhận như một đại cường quân sự khu vực ở châu Á, và như vậy, làm thay đổi cán cân sức mạnh trong khu vực. Nhưng lực lượng quân sự Trung Quốc vẫn còn chưa có sức mạnh viễn phóng ra toàn thế giới: Trung Quốc không có căn cứ quân sự ở nước ngoài, không có mạng lưới viễn thông và hậu cần dài tay, hệ thống vệ tinh bao phủ thế giới còn thô sơ; hải quân chủ yếu vẫn là lực lượng ven bờ; Không quân không có khả năng tấn công tầm xa, hay khả năng tàng hình được chứng thực; và bộ binh không có khả năng triển khai nhanh chóng.

Hơn thế, về chiến lược mà nói, Trung Quốc là một "đại cường cô đơn", thiếu bạn bè thân thiết và không có đồng minh. Ngay cả đối với người bạn thân cận nhất (Nga), có nhiều yếu tố bất tín nhiệm, và nghi ngờ mang tính lịch sử, nằm sâu dưới cái vỏ quan hệ hài hòa giữa hai nhà nước. Không một quốc gia nào trông vào Bắc Kinh để tìm kiếm an ninh và bảo vệ (ngoại trừ có lẽ Pakistan). Điều này chứng tỏ Trung Quốc thiếu một ảnh hưởng chiến lược, với tư cách là một đại cường. Ngược lại, các quốc gia khác ở châu Á lại tìm cách tăng cường liên kết quân sự với Hoa Kỳ, và tìm cách cải thiện quan hệ giữa họ với nhau. Nguyên nhân chính vì sự bất trắc và mối đe doạ họ nhìn thấy từ Trung Quốc.

3. Quyên lực mềm

Chuyển từ quyền lực cứng qua quyền lực mềm, Trung Quốc đã xây dựng sức mạnh văn hóa toàn cầu của họ ra sao? Không tốt lắm ! Không một xã hội nào tìm cách bắt chước nền văn hóa Trung Quốc. Không một xã hội nào tìm cách sao chụp hệ thống chính trị Trung Quốc. Và hệ thống kinh tế Trung Quốc không được bắt chước ở nước khác. Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chi phí và nỗ lực để xây dựng quyền lực mềm, và để cải thiện hình ảnh trên khắp thế giới kể từ năm 2008. Trung Quốc tiếp tục có uy tín toàn cầu từ mức trung bình tới xấu. Các cuộc thăm dò dư luận tại các quốc gia trên thế giới, người ta nhìn Trung Quốc một cách trung bình hay tiêu cực, và ngày càng có thêm những vấn đề.

Trung Quốc không phải là cục nam châm cho mọi người bị cuốn hút. - Cả về văn hoá, xã hội, kinh tế hay chính trị - Vấn đề của Trung Quốc là cả trong bốn lãnh vực này, chúng đều mang tính riêng biệt (sui generis). Trung Quốc thiếu sự hấp dẫn phổ quát ngoài biên giới và ngoài các cộng đồng người Hoa. Lý do chính chỉ vì tính quá riêng biệt trong các lãnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội, chính trị. Tính hấp dẫn của quyền lực mềm của Trung Quốc đi từ yếu tới không hiện hữu.

Các sản phẩm văn hóa Trung Quốc - nghệ thật, phim ảnh, văn chương, âm nhạc, giáo dục- vẫn còn tương đối được ít người biết đến ở bên ngoài Trung Quốc. Và những sản phẩm này không tạo được chiều hướng văn hóa toàn cầu. Ngay cả nền kinh tế phát triển đáng ngưỡng mộ của Trung quốc, chỉ là sản phẩm của một tập hợp riêng biệt các nhân tố (features), không thể đem áp dụng cho các quốc gia khác.- Kinh tế cạnh tranh tầm vóc lớn, kế hoạch hóa nhà nước theo kiểu Liên Xô, kinh doanh cá thể, một lực lượng lao động lớn có kỷ luật, một định chế lớn cho Nghiên cứu và Phát triển (R&D), và một FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) khổng lồ. - Ngay cả nếu có một "mô hình Trung Quốc", (điều này còn phải bàn cãi), nó cũng không thể xuất khẩu được, bởi vì các nhân tố trong tập hợp này không hiện hữu ở những nước khác. Hệ thống chính trị Trung Quốc giống như một hỗn hợp điện tử, gồm có Chủ nghĩa Mác-Lê nin, chủ nghĩa chuyên chế Á châu, chủ nghĩa Khổng giáo truyền thống, và một nhà nước có guồng máy an ninh nội bộ mạnh mẽ. Sự đặc thù của Trung Quốc không thể được nhân rộng ra -. Không có một quốc gia nào khác muốn thử nghiệm làm như vậy; và người ta cũng không thấy một người nước ngoài nào muốn xin tị nạn chính trị hay quốc tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

4. Sức mạnh kinh tế

Sức mạnh kinh tế Trung Quốc có gì lạ? Đây là lãnh vực mà người ta hy vọng Trung Quốc sẽ là một đại cường mang tính toàn cầu, và là người định hướng cho thế giới. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Trung Quốc lên thế giới quá nông cạn so với kỳ vọng. Giống như mọi lãnh vực khác, số lượng của Trung Quốc gây ấn tượng, nhưng chất lượng quá kém. Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng hàng hóa xuất khẩu thường là hàng tiêu dùng cấp hạng thấp; hàng của họ cũng có ít thương hiệu nổi tiếng quốc tế. Chỉ có một số nhỏ công ty đa quốc gia của họ thành công ở nước ngoài. Toàn bộ số vốn Trung Quốc mang đầu tư hải ngoại (ODI- Oversea direct investment) chỉ đứng hàng thứ 17 trên thế giới; và các chương trình viện trợ nước ngoài chỉ là một phần nhỏ của quĩ viện trợ của Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản hay Ngân hàng Thế giới.

Khi khảo sát về chất lượng thay vì số lượng, dung mạo kinh tế mang tính toàn cầu của Trung Quốc không có gì ấn tượng. Nó còn là một nền kinh tế chế biến và lắp ráp, chứ không phải là nền kinh tế sáng tạo và sáng chế. Hầu hết hàng hóa sản xuất ở Trung Quốc để xuất khẩu ra nước ngoài, đã được sáng tạo ra ở nước khác. Tình trạng ăn cắp phổ biến quyền sở hữu trí tuệ, và chính sách nhà nước "sáng tạo bản địa" (đã đổ hàng tỷ USD cho R&D mỗi năm), là chỉ dấu cho thấy rõ rệt họ đã thất bại trong việc sáng tạo ra các mặt hàng. Điều này có lẽ sẽ thay đổi với thời gian, nhưng cho tới nay, Trung Quốc đã không tạo được tiêu chuẩn quốc tế trong công nghệ hay dây chuyền sản xuất. (Cũng giống như trong khoa học tự nhiên, khoa học y tế, xã hội và nhân văn). Tương tự, Trung Quốc chỉ có hai trường đại học nằm trong danh sách 100 đại học tốt nhất thế giới (theo báo cáo của Times Higher Ranking - World University Ranking for 2013-2014).

Nếu Trung Quốc muốn đẩy mạnh sáng tạo, dĩ nhiên họ phải đầu tư thêm cho R&D. Theo National Science Foundation (Quĩ quốc gia về Khoa học) vào năm 2009, Trung Quốc chỉ dành có 1,7% GDP cho R&D; so với Mỹ 2,9%, Đức 2,8%, và Nhật Bản 3,3%. Chi phí cho R&D của Trung Quốc cũng không nằm trong danh sách 20 quốc gia chi phí nhiều nhất cho R&D của thế giới. 80% quĩ này ở Trung Quốc được dùng cho phát triển hàng hoá, và chỉ có 5% dùng cho nghiên cứu cơ bản. Một chỉ dấu cho hiện tượng này là Trung Quốc không có nhiều giải Nobel. Từ 1949-2010, có 584 giải Nobel được phát ra, người gốc Hoa chỉ được có 10 giải. Nhưng 8 trong số 10 người này lại sống ở nước ngoài. Chỉ có hai ngoại lệ là Lưu Hiểu Ba được Giải Hòa bình 2010, và Mặc Ngôn, giải Văn chương 2011. Một chỉ dấu khác là những bài viết có trích dẫn sách Trung Quốc. Số bài viết (trong mọi ngành khoa học) của Trung Quốc được trích dẫn là 4%, so với Mỹ 49%.

Kết quả là Trung Quốc bị thâm hụt sáng chế triền miên. Quốc gia này đang tiến tới "cái bẫy thu nhập trung bình". Con đường duy nhất để tránh cái bẫy này là sáng chế, giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore đã làm trước đây. Và điều này đòi hỏi nhiều thứ hơn là quĩ đầu tư cho R&D của chính phủ. Nó đòi hỏi hệ thống giáo dục dựa trên tư duy phê phán, và tự do khám phá. Điều này lại đòi hỏi một hệ thống chính trị tương đối cởi mở và dân chủ, và không cho phép chính sách kiểm duyệt hay "vùng cấm" trong nghiên cứu. Sinh viên và trí thức phải được tưởng thưởng, chứ không phải bị đàn áp hay trừng phạt khi họ dám thách thức sự khôn ngoan qui ước và phạm phải lỗi lầm. Chờ tới lúc đó, Trung Quốc sẽ rơi vào "cái bẫy thu nhập trung bình" - lắp ráp và sản xuất, chứ không sáng tạo và phát minh-.

Nhìn theo cách này, cỗ xe khổng lồ Trung Quốc rất yếu, so với cái vỏ bề ngoài. Các điểm yếu tương tự của Trung Quốc cũng nằm trong ODI (Đầu tư trực tiếp hải ngoại). Mặc dù chính phủ dành đặc quyền cho các công ty đi ra ngoài, nhưng tới giờ đầu tư hải ngoại của Trung Quốc còn quá nhỏ. Như đã nói ở trên, vốn ODI của Trung Quốc chỉ nằm trong danh sách 20 quốc gia hàng đầu thế giới, mặc dù tiền vốn chảy ra ngoài tăng rất nhanh, và đứng hàng thứ ba trên thế giới (88,2 tỷ USD vào năm 2012). Tuy vậy, số tiền này chỉ bằng ¼ số tiền ODI của Mỹ, cùng vào thời điểm đó.

Điều đáng nói hơn, như mọi lãnh vực hoạt động khác của Trung Quốc, người ta cần nhìn vào thống kê số lượng để đặt ra câu hỏi về chất lượng: Những số vốn này đi đâu? Và có phải là đầu tư thực thụ không? Điểm đến và cơ cấu của ODI Trung Quốc thay đổi nhanh chóng từ năm 2011. Nhưng một số lớn là quĩ porfolio (đầu tư vào chứng khoán hay gửi ngân hàng) chảy qua các vùng như Virgin Islands thuộc Anh, hay đảo Grand Cayman. Chúng là điểm đến thứ hai và thứ 3 của vốn Trung Quốc. Như thế, một số không phải là đầu tư hải ngoại. Chúng là những số tiền mang ra nước ngoài để trốn thuế. Điều này không chỉ đúng với chính phủ Trung Quốc, mà còn đúng cho vốn của các cá nhân nữa. Trong Sách Xanh về Di dân Trung Quốc trên thế giới do Center for Chinese Globalization ấn hành, người ta báo cáo là từ năm 1990, đã có 9,3 triệu người Trung Quốc di cư ra nước ngoài, mang theo với họ 2.800 tỷ Nhân dân tệ (46 tỷ USD). Đây không phải là điều mới mẻ, nhưng khuynh hướng này ngày càng tăng trong thập kỷ vừa qua. Khi giới tinh hoa kinh tế rời bỏ đất nước với số lượng lớn như vậy, và quá lo lắng bảo đảm an toàn cho số tiết kiệm cá nhân của họ, điều đó nói lên sự thiếu tin tưởng vào hệ thống chinh trị, kinh tế của chính phủ họ.

Tuy nhiên, gần đây, cách thức đầu tư hải ngoại của Trung Quốc có thay đổi: Trung Quốc tăng cường đầu tư và mua sắm khắp châu Á, Mỹ la tinh, châu Âu và Hoa Kỳ. Người mua Trung Quốc mua hết các loại tài sản - bất động sản thương mại hay gia cư, xí nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở nghiên cứu, nông trại, rừng, mỏ, mỏ dầu khí, và các tài nguyên khác. Các công ty Trung Quốc tích cực mua hoặc hòa nhập với công ty nước ngoài. Các tư nhân Trung Quốc cũng mua nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị trên thị trường đấu giá. Như thế, cách thức đầu tư hải ngoại của Trung Quốc đã thay đổi, nhưng hậu quả thế nào chưa ai biết rõ.

Còn các công ty đa quốc gia Trung Quốc đang làm gì? Ở nước ngoài, họ có sức cạnh tranh không? Cũng như các loại hình hoạt động khác, họ có nhiều yếu kém hơn sức mạnh. Về mặt bề ngoài, theo số liệu của Fortune Global 500, các công ty Trung Quốc xếp hàng thứ hai, chỉ thua các công ty đa quốc gia của Mỹ. Nhưng việc xếp loại này chỉ dựa trên tổng thu nhập và lợi nhuận, chứ không dựa vào nơi chốn công ty làm ra tiền. Khi quan sát danh sách công ty Trung Quốc trong năm 2013, người ta thấy ngay rất ít công ty này hoạt động ở nước ngoài, và chỉ có một số nhỏ kiếm được hơn nửa số thu nhập ở hải ngoại. Như thế, chúng không phải là những công ty đa quốc gia thực thụ, mà đúng hơn, chỉ là những công ty hoạt động nội địa.

Nhiều công ty có lẽ kỳ vọng vươn ra thế giới. Nhưng tới nay, nhiều công ty đã thử sức nhưng không thành công. Có nhiều câu chuyện thất bại hơn là thành công cho những công ty đa quốc gia Trung quốc. Những vụ mua bán, sáp nhập công ty bình thường đổ vỡ, bởi vì lãnh đạo công ty Trung Quốc không hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ, hoặc vì va chạm văn hoá. Về nhiều mặt, điểm yếu kém của các công ty đa quốc gia Trung Quốc là nguồn nhân lực, nhất là trong quản lý.

Có một số ít quản trị gia quí hiếm, biết nhiều ngôn ngữ và nhiều văn hoá, và các công ty Trung Quốc bình thường không thuê người nước ngoài có chuyên môn làm quản trị cao cấp (hai trường hợp ngoại lệ là Huawei và Haier). Công ty Trung Quốc và ban quản trị của họ thường xuyên cho thấy họ không thoát khỏi văn hóa công ty và cách hành xử kinh doanh mang tính quốc gia. Vì họ chú trọng tới thứ bậc, và vị trí nhân viên rõ ràng, người Trung Quốc không thích hợp với cách quản trị ngang hàng, nguồn gốc của phân quyền và sáng kiến cá nhân. Khuynh hướng này đã mang lại hậu quả là sự va chạm văn hóa trong các vụ sáp nhập công ty Trung Quốc với công ty Tây phương. Các công ty Trung Quốc còn cho thấy họ có khó khăn thích ứng với môi trường luật lệ, thuế má, chính trị của nước ngoài. Sự minh bạch trong quản trị công ty bình thường không được thực hiện. Qui trình lấy quyết định của họ bình thường bị mờ đục, cách hành xử trong kinh doanh bình thường tham nhũng, qui trình kế toán bị gian dối. Người ta đã khám phá ra nhiều công ty Trung Quốc đã khai man với các cơ quan kiểm tra chứng khoán ở Mỹ, trước khi phát hành IPO (bán cổ phiếu lần đầu tiên cho công chúng).

Sự yếu kém của công ty Trung Quốc trong cạnh tranh nổi rõ trong nhãn hiệu quốc tế về hàng hoá. Chỉ có một số ít công ty có khả năng hoạt động ở nước ngoài: Bia Tsingtao, sản phẩm trắng của Haier, viễn thông của Huawei, Hàng không Trung quốc, ô tô Geely, và một số ít nhãn hiệu khác. Và không có một công ty Trung Quốc nào được xếp vào bảng sắp hạng 100 công ty hàng đầu của Tạp chí Business Week.

5. Một số thước đo khác

Một số thước đo khác về sản xuất nội địa cũng cho thấy không có cấp hạng tốt. Năm 2014, Freedom House xếp hạng Trung Quốc thứ 183 trên tổng số 197 quốc gia về tự do báo chí. Từ năm 2002, Chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators) của Ngân hàng Thế giới luôn luôn xếp hạng Trung Quốc trong nhóm 30% từ dưới lên về ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng; nhóm 40% từ dưới lên cho chất lượng kiểm tra và pháp trị, và 10% từ dưới lên về tính giải trình được. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) trong bảng chỉ số cạnh tranh thế giới năm 2013, đã xếp Trung Quốc hạng thứ 29, về tham nhũng, hạng thứ 68; và đạo đức làm việc, hạng thứ 54. Tổ chức Minh Bạch quốc tế còn xếp hạng Trung Quốc thấp hơn nữa về chỉ số tham nhũng (hạng thứ 80) trong bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng năm 2013. Trong hầu hết các phạm trù này, thứ hạng của Trung Quốc đã xấu đi nhiều trong thập kỷ vừa qua. Qua những thước đo như vậy, rõ rệt là uy tín trên trường quốc tế chỉ ở mức trung bình là cao nhất. Trong nhiều khía cạnh, Trung Quốc đứng ngang hàng với các quốc gia có thành tựu thấp, và ít được kính trọng trên thế giới.

Bảng báo cáo về Sự Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc năm 2013 cho thấy rõ: mặc dù những tiến bộ kinh tế, xã hội, đáng khâm phục của Trung Quốc từ thập kỷ 1980, quốc gia này vẫn mang tình chất của một nước đang phát triển. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đứng hàng thứ 101 trên tổng số 187 quôc gia về chỉ số tổng hợp. Thu nhập bình quân đầu người (tính theo mãi lực tương đương -ppp) khoảng 8000 USD/năm, tuy thế 13,1% dân số vẫn sống dưới mức 1,25USD/ngày. Về tuổi thọ, tử vong trẻ sơ sinh, bảo hiểm y tế, chất lượng giáo dục, và bất bình đẳng xã hội… Trung Quốc còn thua xa các quốc gia công nghiệp. Sự huỷ hoại môi trường và ô nhiễm đứng vào hạng xấu nhất trên thế giới, và là nguyên nhân của sự phát triển mạnh mẽ của bệnh ung thư. Mặc dù những nỗ lực gần đây của chính phủ: Mở rộng hoạt động y tế, bảo hiểm sức khỏe, hầu hết người dân Trung Quốc phải đối mặt với những bất trắc lớn khi bị bệnh tật. Chỉ số Gini (để đo độ bất bình đẳng xã hội, với 0 là bình đẳng hoàn toàn, 1 là bất bình đẳng hoàn toàn) nằm gần mức 0,5 thuộc hạng cao nhất thế giới. Các trường học sơ cấp và trung cấp đã có thành tựu ngang tầm quốc tế, nhưng hệ thống đại học còn chậm lụi rất nhiều so với các trường tốt trên thế giới.

Kết luận

Những nhận xét này không phải để làm giảm bớt những thành tựu phát triển thần kỳ của Trung Quốc trong ba thập kỷ vừa qua, nhưng chúng chỉ giúp ta nhận thức rõ là Trung Quốc không đứng đầu thế giới trong các thể loại phát triển.

Đó là cái nhìn về Trung Quốc ngày nay, 10 hay 20 năm nữa, vị trí Trung Quốc trên thế giới có thể cải thiện trong các thể loại này, và Trung Quốc có thể hoạt động trên cơ sở toàn cầu cũng như Hoa Kỳ. Nhưng vào lúc này, cùng lắm, Trung Quốc chỉ là một đại cường thế giới bán phần. Tuy thế, người ta không nên giả định là quĩ đạo phát triển của Trung Quốc sẽ tiếp tục mãi mãi như vậy. Còn có hai khả năng có thể xảy ra: tù đọng và suy thoái.

Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng quốc gia này đã đi tới điểm ngoặc về nhiều phương diện: Tăng trưởng tổng thể đang nằm ngang (lý do vì chi phí sản xuất tăng cao, và lợi thế so sánh giảm), và chính phủ đang cố duy trì mức tăng trưởng 7%, rất quan trọng để tạo đủ công ăn việc làm cho người dân, thâu nhận nhân công mới vào thị trường lao động, và duy trì ổn định xã hội. Có lẽ họ đã thử làm, nhưng chính phủ không thể chuyển đổi nền kinh tế từ phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư sang một nền kinh tế dựa trên tiêu thụ nội địa, và một nền kinh tế dựa trên trí thức sáng tạo. Nền sản xuất không leo lên được bậc thang cao hơn về giá trị và công nghệ, và "cái bẫy thu nhập trung bình" đã xuất hiện, và có thể tồn tại lâu dài. Nợ của nhiều địa phương tăng cao, và nhiều địa phương nằm bên bờ vực phá sản. Bất bình đẳng xã hội trở nên gay gắt, và tham nhũng tràn lan ở cả trong nhà nước và ngoài xã hội, mọi lãnh vực xã hội đều bất mãn. Số người giầu có chạy trốn khỏi đất nước ngày càng tăng, giới trung lưu bị tù hãm, hệ thống chính trị bị hóa thạch và trở nên đàn áp. Cùng lúc đất nước không chấp nhận cải tổ chính trị và luật pháp, rất cần cho giai đoạn tăng trưởng sắp tới, bởi vì chúng va chạm trực tiếp tới tính độc quyền của Đảng Cộng sản Trung quốc.

Nhiều nhà Trung Quốc học hiện nay cho rằng chính Đảng Cộng sản Trung Quốc là chướng ngại cho sự tăng trưởng và phát triển trong tương lai của Trung quốc. Đảng trở thành một định chế ngày càng bất an, sơ cứng, yếu ớt, đã bị tê liệt từ năm 2008. Một phần lý do của sự tê liệt này là sự chuyển đổi lãnh đạo xảy ra vào năm 2012 và cuộc đấu tranh phe phái (vụ Bạc Hi Lai là một). Họ còn phải đối phó với các cuộc nổi loạn ở khắp nước (đặc biệt là ở Tây Tạng và Tân Cương). Còn có thêm một số nhân tố khiến Đảng co cụm lại, và tăng cường đàn áp trong 5 năm qua, kể cả mối lo sợ do Mùa xuân Ả Rập mang lại.

Nhưng người ta không nhận thấy tiến triển về cải tổ từ khi Tập Cận Bình được chuyển giao quyền lực. Ngược lại, đàn áp chính trị lại được tăng cao từ khi Tập nắm quyền. Ngay cả cuộc họp thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-2013, được loan báo là sẽ có cải tổ chính trị, cuối cùng chỉ là một mơ ước chứ không phải là sự thật.

Đó là những vấn đề cháy bỏng rất nguy hiểm mà các chuyên gia về Trung Quốc nghĩ rằng quốc gia này đang đối mặt. Đó là một loạt thách thức cho người dân và chính phủ Trung Quốc phải giải quyết. Như thế, người quan sát không thể mù quáng nghĩ rằng tương lai Trung Quốc sẽ có được động lực như 30 năm qua, hay đó là con đường đi tới qui chế đại cường thế giới sẽ tiếp tục.

David Sambaugh
Nguyễn Văn Nhã chuyển ngữ

  Trong  một lần nào đó, tôi có nhận xét nhược điểm lớn nhất của người Việt là sự độc ác, đố kị và giả dối. Nghĩa là chúng ta phải xây  dựng một nền văn hóa  tẩy trừ sự độc ác và tôn vinh tự do, công bằng và bác ái.  Than ôi, điều đó còn quá xa thực tế trong khi thấm đẫm trong nền văn hóa truyền thống của người Việt là sự tôn vinh bạo lực...mà đối với kẻ ác thì thần tượng là các vị tướng đã chiến thắng. Bây giờ là thời đại nào rồi mà nhiều người vẫn như đang sống ở các thế kỉ trước khi luật chơi vẫn là "mạnh được yếu thua" . Đúng như Anhstanh đã từng than thở "có 2 điều vô hạn là vũ trụ và sự ngu ngốc của con người". Khi bạn sùng bái bạo lực thì khi bị đàn áp bởi bạo chúa thì còn  than thở nỗi gì ? Xin đọc bài sau đây                              

"

Những bài học không bao giờ thuộc

Một cách không ngoại lệ, ở Việt Nam, người ta luôn tôn thờ những võ tướng, nhất là những võ tướng lập chiến công lừng lẫy, đánh thắng giặc ngoại xâm. Có lẽ do lịch sử, thường xuyên phải lo chống nạn ngoại xâm, những trang sử Việt Nam luôn là những trang sử viết bằng máu. Chúng ta thờ Lý Thường Kiệt đánh thắng quân Tống với trận Như Nguyệt cùng với bản tuyên ngôn độc lập "Nam quốc sơn hà". Chúng ta tôn thờ Trần Hưng Đạo vì có công đánh thắng giặc Nguyên Mông. Chúng ta tôn thờ Lê Lợi vì có công dánh giặc Minh. Thờ Nguyễn Huệ vì có công đánh tan quân Thanh và thống nhất đất nước qua hàng thế kỷ phân tranh Trịnh-Nguyễn... Ta có thể viết hàng giờ với những vị anh hùng như thế.

Trong khi ở những nước Tây phương, những nước có nền văn minh khác, ít khi nào họ tôn thờ những võ tướng.

Đền thờ danh nhân Panthéon ở Pháp, nơi thờ những người "có công với đất nước Pháp", đều là những nhà tư tưởng, triết gia, nhà văn, nhà khoa học… tức là những người thuộc phái "văn".

Ta hiểu rằng vấn đề "có công với đất nước" không phải là đánh đông dẹp bắc, mà là làm cho đất nước càng văn minh, càng giàu đẹp hơn.

Vấn đề đánh đông dẹp bắc, công lao của một anh lính quèn hy sinh tại mặt trận so với một danh tướng thì ai hơn ai? Ở Việt Nam ta đã có câu trả lời. Nhưng các nước Tây phương như Mỹ, Pháp, Anh… họ thờ "người anh hùng vô danh" chứ không thờ ông tướng nào hết. Nơi thờ vinh quang nhất của nước Pháp là nơi thờ chiến sĩ vô danh. Nơi đó có ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt.

Công của vị tướng, trước hết là sự hy sinh của người lính chết trận. Người ta ghi ơn, tôn thờ là thờ người lính chết trận chứ không ai thờ ông tướng. Người ta thờ ông tướng chỉ khi nào ông chết trận.

Làm cho đất nước giàu hơn, đẹp hơn, nền văn minh rạng rỡ hơn… là phải nhờ đến những nhà trí thức, triết gia, những thuơng gia, những văn nghệ sĩ, nhà giáo…

Để đào tạo ra những lớp người có khả năng đóng góp cho đất nước như vậy, trước hết đất nước phải được dìu dắt bởi nhà lãnh đạo tài ba, những chính trị gia lỗi lạc, những nhà tư tưởng nồng nàn yêu nước…

Chúng ta không có thói quen tôn thờ những người "cầm viết" mà chỉ tôn thờ những người "cầm súng".

Người "cầm súng" lãnh đạo thì tâm lý, văn hóa xã hội là tâm lý, văn hóa cầm súng.

Một xã hội sống trong cảnh thanh bình từ 4 thập niên vẫn còn quán tính tôn thờ bạo lực, vẫn còn nặng nề đầu óc "địch ta", là do tâm lý và văn hóa "cầm súng".

Những người "cầm viết", những người làm việc bằng trí tuệ vì vậy bị gạt qua bên lề xã hội.

Đất nước làm sao tiến bộ?

Lịch sử lặp lại, một ông tướng võ biền (chết một năm sau) được phong thánh. Dưới chân ông tướng này là 4 triệu người Việt đã đổ máu xương.

Với núi xương sông máu đó ông đã xây dựng được cái gì cho nước Việt?

Một nước Việt độc lập tự do hay một nước Việt đang cô lập trong vũng bùn nghèo hèn và chậm tiến?

Nước Việt mà ông tướng này góp công xây dựng đang là một nước Việt nghèo hèn, một nước Việt mồ côi niềm tin, kiệt quệ tài nguyên, môi trường hủy hoại và lòng người thì ly tán.

Nếu người dân Việt tiếp tục lầm lẫn phen này, thì chắc phải lâu lắm mới thoát ly được vũng lầy tối tăm nghèo đói.

                                                                  Trương Nhân Tuấn         "

 

Sau đây là 2 quan điểm trái ngược về tình hình quốc tế 2014

1-Bi quan

Địa chính trị đang trở lại vị trí trung tâm: Sự trả thù của các cường quốc xét lại

WALTER RUSSELL MEAD

Cho đến thời điểm này, năm 2014 đã là một năm nhiều biến động, khi các cuộc tranh giành địa chính trị ồ ạt chiếm lại sân khấu trung tâm. Dù đó là các lực lượng vũ trang Nga đang chiếm giữ Krym, hay Trung Quốc đang đưa ra các yêu sách chủ quyền quyết đoán tại các vùng biển ven bờ, hay Nhật Bản đang đáp trả bằng một chiến lược ngày càng quyết đoán của chính mình, hay đó là Iran đang ra sức sử dụng các liên minh với Syria và Hezbollah để khống chế Trung Đông, thì các cách vận dụng quyền lực kiểu cũ cũng đang trở lại trong các quan hệ quốc tế.

Hoa Kỳ và Liên Âu, ít ra, cũng nhận thấy các xu thế này là đáng lo ngại. Cả hai đều muốn vượt qua những vấn đề địa chính trị gắn liền với lãnh thổ và sức mạnh quân sự và thay vào đó tập trung vào các vấn đề thuộc về trật tự thế giới và quản trị toàn cầu: tự do hóa mậu dịch, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, nhân quyền, chế độ pháp trị, thay đổi khí hậu, vân vân. Thật vậy, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, mục tiêu quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Tây Âu là chuyển các quan hệ quốc tế từ các vấn đề có bên thắng bên thua [zero-sum issues] sang các vấn đề hai bên đều có lợi [win-win issues]. Bị lôi cuốn vào trong những cuộc đọ sức theo trường phái cũ như cuộc tranh chấp tại Ukraine không những lấy mất thì giờ và năng lực từ những vấn đề quan trọng nói trên; nó còn thay đổi bản chất của chính trị quốc tế. Khi môi trường quốc tế trở nên đen tối, công cuộc phát triển và duy trì trật tự thế giới ngày càng gặp nhiều đe dọa hơn.

Nhưng lẽ ra người phương Tây đừng bao giờ kỳ vọng rằng địa chính trị kiểu cũ cuối cùng sẽ biến mất. Sở dĩ họ tưởng như vậy chỉ vì trên cơ bản họ đã hiểu sai ý nghĩa về sự sụp đổ của Liên Xô: đây chỉ là một cuộc chiến thắng ý thức hệ của thể chế dân chủ tư bản tự do đối với chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là sự lỗi thời của quyền lực cứng [hard power]. Trung Quốc, Iran, và Nga không bao giờ chấp nhận sự dàn xếp địa chính trị tiếp theo sau Chiến tranh Lạnh, và những nước này đang toan tính các nỗ lực ngày càng táo bạo hơn để đảo ngược tình hình. Tiến trình này sẽ không theo đường lối hòa bình, và dù các cường quốc xét lại này có thành công hay không, thì những nỗ lực của chúng cũng đã làm lung lay quân bình lực lượng và thay đổi các tương tác chính trị quốc tế.

MỘT Ý THỨC SAI LẦM VỀ AN NINH

Khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhiều người Mỹ và người châu Âu dường như đã nghĩ rằng những vấn đề địa chính trị phiền phức nhất phần lớn đã được giải quyết xong. Ngoại trừ một số vấn đề tương đối nhỏ, như những rắc rối tại Nam Tư cũ và cuộc tranh chấp giữa Israel và Palestine, họ đinh ninh rằng những vấn đề lớn nhất trong chính trị thế giới sẽ không còn liên quan đến các biên giới quốc gia, các căn cứ quân sự, vấn đề dân tộc tự quyết, hay các vùng ảnh hưởng.

Không ai có thể trách cứ con người vì nuôi hi vọng. Đường lối tiếp cận của phương Tây đối với tình hình thực tế của thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh đã mang nhiền ý nghĩa, và thật khó tưởng tượng ra hòa bình thế giới có thể trở thành hiện thực mà không cần thay thế sự tranh giành địa chính trị [geopolitical competition] bằng việc xây dựng một trật tự thế giới tự do. Tuy nhiên, người phương Tây thường quên rằng dự án này đặt cơ sở trên các nền móng địa chính trị đặc thù vừa được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 1990 mà thôi.

Tại châu Âu, cuộc dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh đưa đến việc thống nhất nước Đức, chia năm xẻ bảy Liên Xô, và kết nạp các quốc gia thuộc khối Warzsawa cũ và các nước cộng hòa Baltic vào NATO và Liên Âu. Tại Trung Đông, nó dẫn đến sự thắng thế của các nước Hồi giáo Sunni đồng minh với Hoa Kỳ (Ả-rập Saudi, các đồng minh Vùng Vịnh, Ai Cập, và Thổ Nhĩ Kỳ), và một chính sách bao vây ngăn chặn kép [double containment] nhắm vào hai nước Iran và Iraq. Tại châu Á, nó đồng nghĩa với ưu thế không bị ai thách thức của Hoa Kỳ, được củng cố bằng một loạt quan hệ an ninh với Nhật Bản, Nam Hàn, Australia, Indonesia, và các đồng minh khác.

Sự dàn xếp này phản ánh thực tế quyền lực lúc bấy giờ, và nó chỉ được vững vàng như các mối quan hệ đang chống đỡ nó mà thôi. Đáng tiếc là, nhiều nhà quan sát đã đồng hóa tình hình địa chính trị tạm thời của thế giới sau Chiến tranh Lạnh với kết quả được coi như là chung cục của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa thể chế dân chủ tự do và chế độ cộng sản Xô-viết. Tuyên bố nổi tiếng của nhà nghiên cứu chính trị Francis Fukuyama, rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh có nghĩa là “cáo chung của lịch sử”, chỉ là một phát biểu về ý thức hệ. Nhưng đối với nhiều người, sự sụp đổ của Liên Xô không những có nghĩa là cuộc đấu tranh ý thức hệ của nhân loại đã chấm dứt vĩnh viễn; họ còn nghĩ rằng bản thân địa chính trị cũng đến hồi chấm dứt vĩnh viễn.

Thoạt nhìn, kết luận này có vẻ là một suy diễn từ lý luận của Fukuyama chứ không phải là một sự bóp méo. Dẫu sao, ý kiến về sự cáo chung của lịch sử đã dựa vào những hậu quả mang tính địa chính trị của những cuộc đấu tranh ý thức hệ kể từ khi triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel lần đầu tiên phát biểu nó vào đầu thế kỷ 19. Đối với Hegel, chính trận Jena, năm 1806, đã hạ màn cuộc chiến giữa các tư tưởng. Theo quan điểm của Hegel, việc Napoleon Bonaparte tiêu diệt toàn bộ quân Phổ trong chiến dịch ngắn ngủi nói trên là chiến thắng của Cách mạng Pháp đối với đội quân tinh nhuệ nhất mà châu Âu tiền-Cách mạng có thể tạo ra. Điều này đã đưa đến một cáo chung cho lịch sử, Hegel lý luận, bởi vì trong tương lai, chỉ có những quốc gia chấp nhận những nguyên tắc và kỹ thuật của nước Pháp cách mạng mới có thể cạnh tranh và tồn tại.

Áp dụng vào thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, lý luận của Hegel được suy diễn là, trong tương lai, các quốc gia sẽ phải chấp nhận những nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản tự do mới theo kịp thời đại. Những xã hội cộng sản khép kín như Liên Xô đã tỏ ra thiếu sáng tạo và kém năng suất, không thể cạnh tranh về kinh tế và quân sự với các quốc gia tự do. Chế độ chính trị của chúng cũng rất khập khễnh, vì không một hình thức xã hội nào khác ngoài thể chế dân chủ tự do mới có thể cung ứng đủ tự do và nhân phẩm cho một xã hội đương thời giữ được ổn định.

Để chống lại phương Tây hữu hiệu, các nước sẽ phải bắt chước phương Tây, và nếu việc này diễn ra, chúng sẽ trở thành một dạng thức xã hội mờ nhạt, chủ hòa, nhu nhược không còn muốn chiến đấu vì bất cứ lý do gì. Mối nguy duy nhất còn sót lại đối với hòa bình thế giới sẽ phát xuất từ các quốc gia côn đồ như Bắc Triều Tiên, và dù những nước này có đủ ý chí để thách thức phương Tây đi nữa, chúng cũng sẽ bị cơ cấu xã hội và chính trị lỗi thời của mình làm cho trở nên què quặt, không thể vượt lên trên mức độ chỉ gây khó chịu cho các nước khác (trừ phi chúng phát triển được vũ khí nguyên tử, hẳn nhiên). Và vì thế, các quốc gia cộng sản cũ, như Nga chẳng hạn, đã đối diện với một lựa chọn. Hoặc là tham gia phong trào hiện đại hóa và trở thành những quốc gia tự do, cởi mở, và chủ hòa, hoặc là cứ bám lấy vũ khí và văn hóa của mình trong khi bị thế giới qua mặt.

Lúc đầu, mọi việc có vẻ diễn ra như thế. Với lịch sử [của cuộc chiến ý thức hệ] chấm dứt, sự tập trung được chuyển từ địa chính trị sang các lãnh vực kinh tế phát triển và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, đồng thời phần lớn chính sách đối ngoại chuyển trọng tâm sang các vấn đề như thay đổi khí hậu và thương mại. Kết hợp sự chấm dứt của địa chính trị với sự cáo chung của lịch sử đã đưa ra một viễn ảnh đặc biệt hấp dẫn đối với Hoa Kỳ: đó là ý tưởng cho rằng Mỹ có thể bắt đầu giảm bớt việc đóng góp vào hệ thống quốc tế mà vẫn thu hoạch nhiều lợi lộc hơn. Mỹ có thể giảm chi tiêu quốc phòng, cắt bớt các ngân khoản của Bộ Ngoại giao, giảm bớt sự hiện diện của mình tại những điểm nóng ở nước ngoài – và thế giới chỉ việc tiếp tục phồn thịnh và tự do hơn.

Viễn kiến này đã từng thu hút cả phe phóng khoáng lẫn phe bảo thủ tại Hoa Kỳ. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton, chẳng hạn, đã cắt giảm ngân sách của cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Ngoại giao và trong tơ tóc đã thuyết phục được Quốc hội tiếp tục đóng lệ phí cho LHQ. Đồng thời, những nhà làm chính sách Mỹ lúc đó đinh ninh rằng hệ thống quốc tế sẽ trở nên vững mạnh hơn và có ảnh hưởng sâu rộng hơn trong khi vẫn đưa đến các lợi ích của Hoa Kỳ. Những chính khách theo chủ nghĩa cô lập mới trong Đảng Cộng hòa (Republican neo-isolationists), như cựu dân biểu Ron Paul từ Bang Texas, đã tranh luận rằng trong tình hình không có những thách thức địa chính trị nghiêm trọng, Hoa Kỳ có thể nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và viện trợ trong khi vẫn tiếp tục hưởng lợi từ hệ thống kinh tế toàn cầu.

Sau Biến cố 9/11, Tổng thống George W. Bush đã đặt cơ sở chính sách đối ngoại trên xác tín là quân khủng bố Trung Đông đã trở thành một kẻ thù đặc biệt nguy hiểm, và Bush phát động điều mà ông cho là một cuộc chiến lâu dài chống lại chúng. Trên một số phương diện, thế giới lại quay về với phạm trù lịch sử đấu tranh. Nhưng tín lý của chính quyền Bush cho rằng thể chế dân chủ có thể dễ dàng được bứng sang  Trung Đông Ả Rập, bắt đầu bằng Iraq, là một bằng chứng về một sự tin tưởng sâu sắc rằng dòng thác biến cố toàn cầu đang diễn ra trong chiều hướng có lợi cho Mỹ.

Tổng thống Barack Obama đã xây dựng chính sách đối ngoại của mình trên xác tín cho rằng “chiến tranh chống khủng bố” đã bị thổi phồng quá đáng, rằng lịch sử [xung đột ý hệ] đã thực sự chấm dứt, và rằng, cũng như trong những năm Clinton cầm quyền, những ưu tiên quan trọng nhất đều liên quan tới việc củng cố trật tự thế giới tự do chứ không phải theo đuổi sách lược địa chính trị cổ điển. Chính quyền này đã minh định một nghị trình cực kỳ tham vọng nhằm yểm trợ trật tự đó: chặn đứng nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân của Iran, giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine, đàm phán một thỏa ước về vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước trên Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, ký kết các hiệp ước kiểm soát vũ khí với Nga, chấn chỉnh lại quan hệ ngoại giao của Mỹ với thế giới Hồi giáo, bênh vực quyền lợi của người đồng tính luyến ái, phục hồi niềm tin của các đồng minh châu Âu, và chấm dứt cuộc chiến tại Afghanistan. Nhưng, đồng thời Obama đã lên kế hoạch nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và giảm bớt sự hiện diện của Mỹ tại những địa bàn chủ yếu trên thế giới, như châu Âu và Trung Đông.

MỘT TRỤC SÂU MỌT?

Tất cả những tin tưởng tốt lành nói trên sắp bị thử thách. Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, dù người ta tập trung chú ý vào sự kèn cựa giữa Liên Âu và Nga về Ukraine, một biến cố đã đưa đến việc Nga chiếm lấy Krym; hay người ta tập trung chú ý vào cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng cường độ giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Á; hay vào cuộc xung đột giáo phái đang bị thu hút vào các tranh chấp quốc tế hay các nội chiến tại Trung Đông, thì người ta vẫn nhận ra rằng càng ngày thế giới càng có vẻ chưa chịu để lại lịch sử đấu tranh ở đằng sau. Trong những cung cách rất khác nhau, với những mục tiêu rất khác nhau, Trung Quốc, Iran, và Nga cùng nhau đẩy lùi giải pháp chính trị của Chiến tranh Lạnh.

Mối tương quan giữa ba cường quốc xét lại này là phức tạp. Trong trường kỳ, Nga lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thế giới quan của Tehran ít có điểm chung với thế giới quan của Bắc Kinh hay của Moskva. Iran và Nga là những nước xuất khẩu dầu và muốn giá dầu cao; Trung Quốc rốt cuộc vẫn là nước tiêu thụ dầu và muốn giá dầu thấp. Bất ổn chính trị tại Trung Đông có thể làm lợi cho Iranvà Nga nhưng lại đặt ra nhiều rủi ro to lớn cho Trung Quốc. Ta không nên nói đến một liên minh chiến lược giữa ba nước này, và qua thời gian, nếu chúng thành công trong việc phá hoại ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực Á Âu, căng thẳng giữa chúng có khả năng sẽ gia tăng chứ không giảm bớt.

Tuy nhiên, điều kết hợp những cường quốc này lại với nhau chính là sự nhất trí rằng nguyên trạng cần phải được xét lại. Nga muốn tái phục hồi Liên Xô được chừng nào hay chừng ấy. Trung Quốc không có ý định tự mãn với một vai trò thứ yếu trong các vấn đề toàn cầu, đồng thời cũng không chấp nhận mức độ ảnh hưởng hiện nay của Hoa Kỳ tại châu Á và nguyên trạng lãnh thổ [the territorial status quo] tại đó. Iran muốn thay thế trật tự hiện nay tại Trung Đông – một trật tự do Ả Rập Saudi lãnh đạo và bị các quốc gia Ả Rập Hồi giáo Sunni khống chế – bằng một trật tự lấy Tehran làm trung tâm.

Lãnh đạo của ba nước này còn nhất trí với nhau rằng quyền lực Mỹ là trở ngại chính cho việc họ thực hiện các mục tiêu xét lại [revisionist goals] của mình. Thái độ thù địch của họ đối với Washington và trật tự mà Mỹ đặt ra có tính vừa công vừa thủ: không những họ hi vọng rằng sự suy yếu của quyền lực Mỹ sẽ làm cho việc lập lại trật tự mới trong khu vực của họ dễ dàng hơn, mà còn lo ngại rằng Washington có thể ra sức lật đổ họ nếu bất bình của người dân trong nước họ gia tăng. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo xét lại này muốn tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, ngoại trừ trong một số trường hợp hiếm hoi khi tình hình hết sức thuận lợi cho họ (như trong vụ Nga xâm lăng Georgia năm 2008 và chiếm đóng rồi sáp nhập Krym năm nay). Thay vì đối đầu trực tiếp với nguyên trạng, họ tìm cách làm sứt mẻ dần dần các qui phạm và các mối quan hệ vốn đang duy trì nó.

Kể từ khi Obama trở thành tổng thống Mỹ, mỗi một trong ba cường quốc này đã theo đuổi một chiến lược riêng biệt tùy theo chỗ mạnh, yếu của mình. Nghịch lý là, Trung Quốc, quốc gia có nhiều tiềm năng to lớn nhất trong bộ ba, đã gặp nhiều trở ngại nhất. Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm quyết đoán chủ quyền của mình trong khu vực chỉ mang đến hậu quả là làm thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đồng minh châu Á và gia tăng cường độ của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản. Tiềm năng của Bắc Kinh càng lớn, thì ý thức về thất bại sẽ càng sâu sắc. Một sự gia tăng sức mạnh từ phía Trung Quốc sẽ gặp phải một sự gia tăng quyết tâm từ phía Nhật Bản, và các căng thẳng tại châu Á sẽ có khả năng lan tràn sang lãnh vực kinh tế và chính trị toàn cầu.

Iran, quốc gia yếu nhất trong bộ ba này căn cứ trên nhiều thước đo, lại đạt nhiều thành tích nhất. Một kết hợp của việc Mỹ xâm lăng Iraq và việc Mỹ sau đó rút quân ra quá sớm đã giúp Tehran hàn gắn các mối quan hệ sâu sắc và bền vững với các trung tâm quyền lực có ý nghĩa ở bên kia biên giới Iraq, một diễn biến đã làm thay đổi cán cân quyền lực giáo phái và chính trị ở trong khu vực. Tại Syria, Iran, với sự trợ giúp của Hezbolla, một đồng minh lâu đời, đã đủ sức đảo ngược tình hình quân sự và chống đỡ được chính phủ của Bashar al-Assad trước sự phản đối mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ. Sự chiến thắng của chính trị thực tế này đã gia tăng quyền lực và uy tín của Iran một cách đáng kể. Khắp Trung Đông, Mùa Xuân Ả Rập đã làm suy yếu các chế độ Hồi giáo Sunni, đẩy thêm cán cân quyền lực về phía có lợi choIran. Iran cũng hưởng lợi nhờ mối chia rẽ ngày càng tăng giữa các chính phủ Sunni về cách họ phải ứng xử với Tổ chức Huynh đệ Hồi giáo và các chi nhánh và thành viên của nó.

Trong khi đó, Nga xuất hiện như một cường quốc xét lại có thành tích trung bình: mạnh hơn Iran và yếu hơn Trung Quốc, thành công hơn Trung Quốc về địa chiến lược nhưng không thành công bằng Iran. Nga đã đạt một số kết quả vừa phải trong nỗ lực ly gián Đức với Hoa Kỳ, nhưng tham vọng của Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc phục hồi Liên Xô cũ đã trở nên khập khiễng do những giới hạn gay gắt của sức mạnh kinh tế nước ông. Để xây dựng một khối Á-Âu thực sự, như Putin mơ ước thực hiện, Nga sẽ phải cung cấp ngân sách cho các cộng hòa Xô-viết cũ – một điều Nga không đủ sức làm.

Tuy nhiên, bất chấp khả năng hạn chế của mình, Putin đã thành công xuất sắc trong việc làm thất bại các dự án của phương Tây trên lãnh thổ Xô-viết cũ. Ông đã chặn đứng NATO ngay trên con đường bành trướng của nó, đưa Armenia vào quĩ đạo của mình, nắm chặt Krym, và, với sự phiêu lưu của ông tại Ukraine, đã giáng một đòn bất ngờ khiến phương Tây cảm thấy bức xúc và nhục nhã. Từ quan điểm của phương Tây, Putin dường như đang đẩy đất nước mình vào một tương lai đen tối hơn bao giờ hết, để trở thành một quốc gia nghèo và đứng bên lề hệ thống quốc tế. Nhưng Putin không tin rằng lịch sử đã chấm dứt, và từ góc nhìn của ông, ông đã củng cố được quyền lực ở trong nước và đã nhắc nhở các cường quốc thù nghịch ở bên ngoài biết rằng con gấu Nga vẫn còn vuốt sắc.

CÁC THẾ LỰC HIỆN NAY

Những cường quốc xét lại này theo đuổi những nghị trình và có những tiềm năng khác biệt nhau đến nỗi không một nước nào trong nhóm này có thể tạo ra một lực chống đối có hệ thống và mang tính toàn cầu như Liên Xô đã làm trước đây. Do đó, người Mỹ đã chậm nhận ra rằng những quốc gia này đã làm lung lay trật tự địa chính trị Á Âu trong những cung cách gây khó khăn cho Mỹ và châu Âu trong nỗ lực xây dựng một thế giới hậu-lịch sử, đôi bên đều có lợi [a post-historical, win-win world].

Tuy vậy, người ta vẫn có thể chứng kiến các hậu quả của hành vi xét lại này ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Đông Á, mặc dù lập trường ngày một quyết đoán của Trung Quốc chưa đạt nhiều tiến độ địa chính trị cụ thể, nhưng trên cơ bản nó đã thay đổi động lực tương tác chính trị trong một khu vực hiện có những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chính trị châu Á ngày nay xoay quanh sự kèn cựa giữa các dân tộc, các đòi hỏi chủ quyền xung đột nhau, các nỗ lực tăng cường hải quân, và các vấn đề lịch sử tương tự. Cuộc phục sinh của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản, một đáp trả trực tiếp đối với nghị trình của Trung Quốc, đã làm phát sinh một tiến trình theo đó chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy ở nước này sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc ở nước kia. Trung Quốc và Nhật Bản đang tăng cường giọng điệu cứng rắn, gia tăng ngân sách quân sự của mỗi bên, khởi động các cuộc khủng hoảng song phương với tần suất cao hơn, và ngày càng tập trung vào cuộc tranh giành có bên thắng bên thua [zero-sum competition].

Mặc dù Liên Âu vẫn còn ở trong những giờ phút hậu-lịch sử [trong quan niệm cho rằng lịch sử đấu tranh ý thức hệ đã hoàn toàn chấm dứt], nhưng những cộng hòa nằm ngoài khối Liên Âu và thuộc Liên Xô cũ lại đang sống trong một thời đại rất khác. Trong vài năm qua, những hi vọng về việc chuyển đổi Liên Xô cũ thành một khu vực hậu-lịch sử đã phai tàn. Việc Nga chiếm Ukraine chỉ là bước mới nhất trong một loạt diễn biến đã biến Đông Âu thành một khu vực xung đột địa chiến lược gay gắt, khiến cho việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ vững chắc và hữu hiệu trở nên khó thực hiện bên ngoài các quốc gia Baltic và Ba Lan.

Tại Trung Đông, tình hình thậm chí còn gay gắt hơn. Những ước mơ rằng thế giới Ả Rập đang tiến đến điểm chuyển đổi sang thể chế dân chủ – những ước mơ đã tạo hình dáng và phẩm chất của chính sách Hoa Kỳ dưới chính quyền Bush lẫn Obama – cũng đã phai tàn. Thay vì xây dựng một trật tự thông thoáng trong khu vực, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ đang phải đối phó với sự tan rã của hệ thống nhà nước đã được khai sinh từ hiệp ước Sykes-Picot năm 1916, một hiệp ước đã chia cắt các vùng trong Đế quốc Ottoma, trong khi việc điều hành quốc gia đang bị xói mòn tại Iraq, Lebanon, và Syria. Obama đã cố gắng hết sức để tách rời vấn đề địa chính trị trong việc Iran bành trướng quyền lực nhanh chóng khắp khu vực khỏi vấn đề nước này phải tuân theo Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí hạt nhân, nhưng những lo lắng của lãnh đạo Israel và Ả Rập Saudi về những tham vọng khu vực của Iran đang làm cho nỗ lực của Obama càng khó thực hiện. Một cản trở khác cho việc đạt được thỏa ước với Iran chính là Nga, một cường quốc đã sử dụng địa vị của mình trong Hội đồng Bảo an LHQ và việc hậu thuẫn cho Assad để đẩy lùi các mục tiêu của Mỹ tạiSyria.

Nga xem ảnh hưởng của mình tại Trung Đông như là một tài sản quan trọng trong cuộc cạnh tranh quyền lực với Mỹ. Điều này không có nghĩa là Moskva sẽ theo phản xạ chống lại các mục tiêu của Mỹ trong mọi trường hợp, nhưng có nghĩa là những kết quả mang lại lợi ích cho cả đôi bên [the win-win outcomes] mà lãnh đạo Mỹ sốt sắng tìm kiếm đôi khi sẽ bị hi sinh vì những lợi ích địa chính trị của Nga. Trong việc quyết định cần phải mạnh tay như thế nào với Nga về vấn đề Ukraine, Nhà Trắng không thể tránh né việc cân nhắc hậu quả đối với lập trường của Nga về cuộc chiến Syria hay về chương trình hạt nhân củaIran. Nga không thể biến mình thành một nước giàu có hơn hay rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay, nhưng nó đã làm cho mình trở thành một yếu tố quan trọng trong tư duy chiến lược của Mỹ, và Nga có thể sử dụng lợi thế này để đòi hỏi các nhượng bộ quan trọng đối với mình.

Nếu những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại này đã thắng thế, thì sức mạnh của những cường quốc muốn duy trì nguyên trạng đã bị xói mòn. Tình trạng suy yếu này diễn ra rõ nét nhất tại châu Âu, nơi mà cái thảm họa không suy giảm của đồng tiền chung đã chia rẽ công luận và buộc Liên Âu phải xoay hướng tập trung vào bên trong. Liên Âu có lẽ đã tránh được hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra của cuộc khủng hoảng đồng euro, nhưng cả ý chí lẫn khả năng để hành động có hiệu quả ở ngoài biên giới của mình đã bị tổn thương đáng kể.

Hoa Kỳ đã không kinh qua một thiệt hại to lớn nào tương tự như nỗi đau kinh tế mà phần lớn châu Âu đã trải qua, nhưng vì Mỹ cũng đang đối diện nhiều vấn đề, gồm cái dư vị trong chính sách đối ngoại do những cuộc chiến của Bush để lại, một nhà nước giám sát ngày càng xâm phạm đời tư công dân, một cuộc hồi phục kinh tế chậm chạp, và một luật cải tổ y tế bị nhiều người chống đối, tâm lý công chúng đã trở nên chán chường. Cả bên cánh Tả lẫn bên cánh Hữu, người Mỹ đang đặt nghi vấn về những lợi ích của trật tự thế giới hiện nay và về khả năng của những kiến trúc sư đã tạo ra nó. Ngoài ra, dân chúng cũng chia sẻ sự đồng thuận của giới cầm quyền rằng trong một thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ nhất định có thể đóng góp ít hơn vào hệ thống quốc tế và rút ra nhiều lợi lộc hơn. Khi điều đó không xảy ra, người dân bèn đổ lỗi cho lãnh đạo. Dẫu sao, người dân Mỹ không còn mấy thiết tha đối với các sáng kiến đồ sộ mới mẻ ở trong cũng như ngoài nước. Một quần chúng yếm thế đang trở nên thờ ơ với một Washington phân cực, bằng một thái độ vừa chán chường vừa khinh bỉ.

Obama lên cầm quyền với kế hoạch cắt giảm chi tiêu quân sự và thu nhỏ tầm quan trọng của chính sách đối ngoại trong chính trị Mỹ trong lúc tăng cường trật tự thế giới tự do. Nhưng hiện nay, hơn nửa đoạn đường trong chức vụ tổng thống, Obama thấy mình bị sa lầy vào chính những hình thức tranh đua địa chính trị mà trước đây ông từng hi vọng có thể vượt qua. Chính sách phục thù của Trung Quốc, Iran, và Nga chưa lật đổ được sự dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh tại khu vực Á Âu, và có lẽ không bao giờ làm được điều này, nhưng nó đã biến một nguyên trạng không tranh chấp [uncontested status quo] thành một nguyên trạng bị tranh chấp. Các tổng thống Mỹ không còn tự do hành động khi họ tìm cách củng cố hệ thống tự do; càng ngày họ càng bận tâm với việc chống đỡ những nền tảng địa chính trị của hệ thống này.

HOÀNG HÔN CỦA LỊCH SỬ

Chính vì cách đây 22 năm Fukuyamađã cho xuất bản cuốn The End of History and the Last Man (Cáo chung của Lịch sử và Con người Cuối cùng) mà người ta có xu thế coi sự tái xuất của địa chính trị là một cách bác bỏ dứt khoát luận thuyết của ông. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Như Fukuyama đã nhắc nhở người đọc, tận cùng của lịch sử là ý kiến của Hegel, và mặc dù loại hình nhà nước cách mạng đã vĩnh viễn chiến thắng loại hình chế độ cũ, Hegel lý luận, cạnh tranh và xung đột sẽ còn tiếp tục diễn ra. Ông tiên đoán rằng những xáo trộn chính trị sẽ xảy ra trong các lãnh thổ, ngay cả khi các vùng trung tâm của văn minh châu Âu đi vào một thời kỳ hậu-lịch sử (post-historical time). Giả dụ các lãnh thổ trong quan niệm của Hegel gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga, chắc chắn người ta sẽ không ngạc nhiên rằng hơn hai thế kỷ sau, những xáo trộn kia vẫn chưa chấm dứt. Chúng ta đang sống trong buổi hoàng hôn của lịch sử chứ không sống vào thời điểm lịch sử đã thật sự cáo chung.

Ngày nay, một quan niệm về tiến trình lịch sử theo kiểu Hegel sẽ cho rằng kể từ đầu thế kỷ 19 đến nay tiến trình này vẫn không mấy thay đổi. Để được hùng mạnh, các quốc gia phải phát triển những tư duy và những định chế có thể cho phép họ sử dụng các lực vô cùng to lớn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và thông tin. Ngoài ra, không còn có một con đường nào khác; xã hội nào không đủ sức hoặc không muốn đi theo con đường này cuối cùng sẽ trở thành kẻ tuân theo mệnh lệnh của lịch sử chứ không thể làm nên lịch sử.

Nhưng con đường dẫn đến thời hậu hiện đại [postmodernity] vẫn còn nhiều gập ghềnh. Để tăng cường quyền lực của mình, Trung Quốc, chẳng hạn, rõ ràng sẽ phải đi qua một tiến trình phát triển kinh tế và chính trị, đòi hỏi nước này phải khắc phục những vấn đề mà các xã hội phương Tây đã và đang đối phó. Nhưng, vẫn không có gì đảm bảo rằng con đường mà Trung Quốc sử dụng để đi tới tình trạng hiện đại tự do và ổn định sẽ ít hỗn độn hơn con đường mà Đức đã đi qua, chẳng hạn. Buổi hoàng hôn của lịch sử không phải là một thời gian yên ắng.

Phần hai cuốn sách của Fukuyama ít được chú ý vì không làm hài lòng người phương Tây. Khi Fukuyama tìm hiểu một xã hội hậu-lịch sử sẽ giống như thế nào, ông đã phát hiện một hình ảnh đáng lo ngại. Trong một thế giới mà những vấn đề lớn đã được giải quyết xong và lãnh vực địa chính trị đã nhường bước cho lãnh vực kinh tế, nhân loại trông sẽ giống như “con người cuối cùng” theo chủ nghĩa hư vô mà triết gia Friedrich Nietzche đã mô tả: đó là người tiêu thụ chỉ biết chăm chút chính mình mà không còn khát vọng nào lớn hơn ngoài chuyến đi mua sắm tiếp theo.

Nói cách khác, những người này sẽ gần giống giới quan liêu châu Âu và giới vận động hành lang tại Washington ngày nay. Họ có thừa khả năng để quản lý công việc của mình trong xã hội hậu-lịch sử, nhưng hiểu được các động cơ và chống lại được những chiến lược của các lãnh đạo chính trị cường quốc kiểu cũ là việc khó đối với họ. Khác với những đối thủ của họ vừa kém năng suất vừa thiếu ổn định, những con người hậu lịch sử không biết hi sinh, chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, dễ dàng bị lung lạc, và thiếu can đảm.

Thực tế của đời sống cá nhân và sinh họat chính trị tại những xã hội hậu lịch sử là rất khác với thực tế tại những nước như Trung Quốc, Iran, và Nga, nơi mà mặt trời lịch sử vẫn đang chiếu sáng. Những xã hội khác biệt này không những đề cao các nhân cách và giá trị khác biệt, mà các định chế của chúng cũng hoạt động kiểu khác và dân chúng ở đó chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng kiểu khác.

Các xã hội gồm toàn những con người cuối cùng của Nietzche có đặc tính là hiểu sai và đánh giá thấp những đối thủ mà họ cho là bán khai trong những xã hội mà họ cho là lạc hậu – một điểm mù có thể, chí ít tạm thời, xoá bỏ những lợi thế khác của nước họ. Trào lưu lịch sử có thể đang chảy không ngừng về hướng thể chế dân chủ tư bản tự do, và mặt trời lịch sử có thể đang thật sự khuất sau những rặng đồi. Nhưng thậm chí khi bóng đêm len xuống và vì sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời thì những nhân vật như Putin vẫn còn sải bước trên sân khấu thế giới. Họ sẽ không nhẹ nhàng đi vào cái đêm an lành kia, mà bằng tất cả cuồng nộ, họ sẽ chống lại sự lụi tắt của ánh sáng.

__________

WALTER RUSSELL MEAD là Giáo sư về Các Vấn đề Đối ngoại và Khoa học Nhân văn tại Đại học Bard và là Cộng tác viên của The American Interest.

Địa chính trị đang trở lại vị trí trung tâm: Sự trả thù của các cường quốc xét lại

WALTER RUSSELL MEAD

Cho đến thời điểm này, năm 2014 đã là một năm nhiều biến động, khi các cuộc tranh giành địa chính trị ồ ạt chiếm lại sân khấu trung tâm. Dù đó là các lực lượng vũ trang Nga đang chiếm giữ Krym, hay Trung Quốc đang đưa ra các yêu sách chủ quyền quyết đoán tại các vùng biển ven bờ, hay Nhật Bản đang đáp trả bằng một chiến lược ngày càng quyết đoán của chính mình, hay đó là Iran đang ra sức sử dụng các liên minh với Syria và Hezbollah để khống chế Trung Đông, thì các cách vận dụng quyền lực kiểu cũ cũng đang trở lại trong các quan hệ quốc tế.

Hoa Kỳ và Liên Âu, ít ra, cũng nhận thấy các xu thế này là đáng lo ngại. Cả hai đều muốn vượt qua những vấn đề địa chính trị gắn liền với lãnh thổ và sức mạnh quân sự và thay vào đó tập trung vào các vấn đề thuộc về trật tự thế giới và quản trị toàn cầu: tự do hóa mậu dịch, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, nhân quyền, chế độ pháp trị, thay đổi khí hậu, vân vân. Thật vậy, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, mục tiêu quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Tây Âu là chuyển các quan hệ quốc tế từ các vấn đề có bên thắng bên thua [zero-sum issues] sang các vấn đề hai bên đều có lợi [win-win issues]. Bị lôi cuốn vào trong những cuộc đọ sức theo trường phái cũ như cuộc tranh chấp tại Ukraine không những lấy mất thì giờ và năng lực từ những vấn đề quan trọng nói trên; nó còn thay đổi bản chất của chính trị quốc tế. Khi môi trường quốc tế trở nên đen tối, công cuộc phát triển và duy trì trật tự thế giới ngày càng gặp nhiều đe dọa hơn.

Nhưng lẽ ra người phương Tây đừng bao giờ kỳ vọng rằng địa chính trị kiểu cũ cuối cùng sẽ biến mất. Sở dĩ họ tưởng như vậy chỉ vì trên cơ bản họ đã hiểu sai ý nghĩa về sự sụp đổ của Liên Xô: đây chỉ là một cuộc chiến thắng ý thức hệ của thể chế dân chủ tư bản tự do đối với chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là sự lỗi thời của quyền lực cứng [hard power]. Trung Quốc, Iran, và Nga không bao giờ chấp nhận sự dàn xếp địa chính trị tiếp theo sau Chiến tranh Lạnh, và những nước này đang toan tính các nỗ lực ngày càng táo bạo hơn để đảo ngược tình hình. Tiến trình này sẽ không theo đường lối hòa bình, và dù các cường quốc xét lại này có thành công hay không, thì những nỗ lực của chúng cũng đã làm lung lay quân bình lực lượng và thay đổi các tương tác chính trị quốc tế.

MỘT Ý THỨC SAI LẦM VỀ AN NINH

Khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhiều người Mỹ và người châu Âu dường như đã nghĩ rằng những vấn đề địa chính trị phiền phức nhất phần lớn đã được giải quyết xong. Ngoại trừ một số vấn đề tương đối nhỏ, như những rắc rối tại Nam Tư cũ và cuộc tranh chấp giữa Israel và Palestine, họ đinh ninh rằng những vấn đề lớn nhất trong chính trị thế giới sẽ không còn liên quan đến các biên giới quốc gia, các căn cứ quân sự, vấn đề dân tộc tự quyết, hay các vùng ảnh hưởng.

Không ai có thể trách cứ con người vì nuôi hi vọng. Đường lối tiếp cận của phương Tây đối với tình hình thực tế của thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh đã mang nhiền ý nghĩa, và thật khó tưởng tượng ra hòa bình thế giới có thể trở thành hiện thực mà không cần thay thế sự tranh giành địa chính trị [geopolitical competition] bằng việc xây dựng một trật tự thế giới tự do. Tuy nhiên, người phương Tây thường quên rằng dự án này đặt cơ sở trên các nền móng địa chính trị đặc thù vừa được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 1990 mà thôi.

Tại châu Âu, cuộc dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh đưa đến việc thống nhất nước Đức, chia năm xẻ bảy Liên Xô, và kết nạp các quốc gia thuộc khối Warzsawa cũ và các nước cộng hòa Baltic vào NATO và Liên Âu. Tại Trung Đông, nó dẫn đến sự thắng thế của các nước Hồi giáo Sunni đồng minh với Hoa Kỳ (Ả-rập Saudi, các đồng minh Vùng Vịnh, Ai Cập, và Thổ Nhĩ Kỳ), và một chính sách bao vây ngăn chặn kép [double containment] nhắm vào hai nước Iran và Iraq. Tại châu Á, nó đồng nghĩa với ưu thế không bị ai thách thức của Hoa Kỳ, được củng cố bằng một loạt quan hệ an ninh với Nhật Bản, Nam Hàn, Australia, Indonesia, và các đồng minh khác.

Sự dàn xếp này phản ánh thực tế quyền lực lúc bấy giờ, và nó chỉ được vững vàng như các mối quan hệ đang chống đỡ nó mà thôi. Đáng tiếc là, nhiều nhà quan sát đã đồng hóa tình hình địa chính trị tạm thời của thế giới sau Chiến tranh Lạnh với kết quả được coi như là chung cục của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa thể chế dân chủ tự do và chế độ cộng sản Xô-viết. Tuyên bố nổi tiếng của nhà nghiên cứu chính trị Francis Fukuyama, rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh có nghĩa là “cáo chung của lịch sử”, chỉ là một phát biểu về ý thức hệ. Nhưng đối với nhiều người, sự sụp đổ của Liên Xô không những có nghĩa là cuộc đấu tranh ý thức hệ của nhân loại đã chấm dứt vĩnh viễn; họ còn nghĩ rằng bản thân địa chính trị cũng đến hồi chấm dứt vĩnh viễn.

Thoạt nhìn, kết luận này có vẻ là một suy diễn từ lý luận của Fukuyama chứ không phải là một sự bóp méo. Dẫu sao, ý kiến về sự cáo chung của lịch sử đã dựa vào những hậu quả mang tính địa chính trị của những cuộc đấu tranh ý thức hệ kể từ khi triết gia Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel lần đầu tiên phát biểu nó vào đầu thế kỷ 19. Đối với Hegel, chính trận Jena, năm 1806, đã hạ màn cuộc chiến giữa các tư tưởng. Theo quan điểm của Hegel, việc Napoleon Bonaparte tiêu diệt toàn bộ quân Phổ trong chiến dịch ngắn ngủi nói trên là chiến thắng của Cách mạng Pháp đối với đội quân tinh nhuệ nhất mà châu Âu tiền-Cách mạng có thể tạo ra. Điều này đã đưa đến một cáo chung cho lịch sử, Hegel lý luận, bởi vì trong tương lai, chỉ có những quốc gia chấp nhận những nguyên tắc và kỹ thuật của nước Pháp cách mạng mới có thể cạnh tranh và tồn tại.

Áp dụng vào thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, lý luận của Hegel được suy diễn là, trong tương lai, các quốc gia sẽ phải chấp nhận những nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản tự do mới theo kịp thời đại. Những xã hội cộng sản khép kín như Liên Xô đã tỏ ra thiếu sáng tạo và kém năng suất, không thể cạnh tranh về kinh tế và quân sự với các quốc gia tự do. Chế độ chính trị của chúng cũng rất khập khễnh, vì không một hình thức xã hội nào khác ngoài thể chế dân chủ tự do mới có thể cung ứng đủ tự do và nhân phẩm cho một xã hội đương thời giữ được ổn định.

Để chống lại phương Tây hữu hiệu, các nước sẽ phải bắt chước phương Tây, và nếu việc này diễn ra, chúng sẽ trở thành một dạng thức xã hội mờ nhạt, chủ hòa, nhu nhược không còn muốn chiến đấu vì bất cứ lý do gì. Mối nguy duy nhất còn sót lại đối với hòa bình thế giới sẽ phát xuất từ các quốc gia côn đồ như Bắc Triều Tiên, và dù những nước này có đủ ý chí để thách thức phương Tây đi nữa, chúng cũng sẽ bị cơ cấu xã hội và chính trị lỗi thời của mình làm cho trở nên què quặt, không thể vượt lên trên mức độ chỉ gây khó chịu cho các nước khác (trừ phi chúng phát triển được vũ khí nguyên tử, hẳn nhiên). Và vì thế, các quốc gia cộng sản cũ, như Nga chẳng hạn, đã đối diện với một lựa chọn. Hoặc là tham gia phong trào hiện đại hóa và trở thành những quốc gia tự do, cởi mở, và chủ hòa, hoặc là cứ bám lấy vũ khí và văn hóa của mình trong khi bị thế giới qua mặt.

Lúc đầu, mọi việc có vẻ diễn ra như thế. Với lịch sử [của cuộc chiến ý thức hệ] chấm dứt, sự tập trung được chuyển từ địa chính trị sang các lãnh vực kinh tế phát triển và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, đồng thời phần lớn chính sách đối ngoại chuyển trọng tâm sang các vấn đề như thay đổi khí hậu và thương mại. Kết hợp sự chấm dứt của địa chính trị với sự cáo chung của lịch sử đã đưa ra một viễn ảnh đặc biệt hấp dẫn đối với Hoa Kỳ: đó là ý tưởng cho rằng Mỹ có thể bắt đầu giảm bớt việc đóng góp vào hệ thống quốc tế mà vẫn thu hoạch nhiều lợi lộc hơn. Mỹ có thể giảm chi tiêu quốc phòng, cắt bớt các ngân khoản của Bộ Ngoại giao, giảm bớt sự hiện diện của mình tại những điểm nóng ở nước ngoài – và thế giới chỉ việc tiếp tục phồn thịnh và tự do hơn.

Viễn kiến này đã từng thu hút cả phe phóng khoáng lẫn phe bảo thủ tại Hoa Kỳ. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton, chẳng hạn, đã cắt giảm ngân sách của cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Ngoại giao và trong tơ tóc đã thuyết phục được Quốc hội tiếp tục đóng lệ phí cho LHQ. Đồng thời, những nhà làm chính sách Mỹ lúc đó đinh ninh rằng hệ thống quốc tế sẽ trở nên vững mạnh hơn và có ảnh hưởng sâu rộng hơn trong khi vẫn đưa đến các lợi ích của Hoa Kỳ. Những chính khách theo chủ nghĩa cô lập mới trong Đảng Cộng hòa (Republican neo-isolationists), như cựu dân biểu Ron Paul từ Bang Texas, đã tranh luận rằng trong tình hình không có những thách thức địa chính trị nghiêm trọng, Hoa Kỳ có thể nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và viện trợ trong khi vẫn tiếp tục hưởng lợi từ hệ thống kinh tế toàn cầu.

Sau Biến cố 9/11, Tổng thống George W. Bush đã đặt cơ sở chính sách đối ngoại trên xác tín là quân khủng bố Trung Đông đã trở thành một kẻ thù đặc biệt nguy hiểm, và Bush phát động điều mà ông cho là một cuộc chiến lâu dài chống lại chúng. Trên một số phương diện, thế giới lại quay về với phạm trù lịch sử đấu tranh. Nhưng tín lý của chính quyền Bush cho rằng thể chế dân chủ có thể dễ dàng được bứng sang  Trung Đông Ả Rập, bắt đầu bằng Iraq, là một bằng chứng về một sự tin tưởng sâu sắc rằng dòng thác biến cố toàn cầu đang diễn ra trong chiều hướng có lợi cho Mỹ.

Tổng thống Barack Obama đã xây dựng chính sách đối ngoại của mình trên xác tín cho rằng “chiến tranh chống khủng bố” đã bị thổi phồng quá đáng, rằng lịch sử [xung đột ý hệ] đã thực sự chấm dứt, và rằng, cũng như trong những năm Clinton cầm quyền, những ưu tiên quan trọng nhất đều liên quan tới việc củng cố trật tự thế giới tự do chứ không phải theo đuổi sách lược địa chính trị cổ điển. Chính quyền này đã minh định một nghị trình cực kỳ tham vọng nhằm yểm trợ trật tự đó: chặn đứng nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân của Iran, giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine, đàm phán một thỏa ước về vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu, ký kết các hợp đồng thương mại với các nước trên Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, ký kết các hiệp ước kiểm soát vũ khí với Nga, chấn chỉnh lại quan hệ ngoại giao của Mỹ với thế giới Hồi giáo, bênh vực quyền lợi của người đồng tính luyến ái, phục hồi niềm tin của các đồng minh châu Âu, và chấm dứt cuộc chiến tại Afghanistan. Nhưng, đồng thời Obama đã lên kế hoạch nhanh chóng cắt giảm chi tiêu quốc phòng và giảm bớt sự hiện diện của Mỹ tại những địa bàn chủ yếu trên thế giới, như châu Âu và Trung Đông.

MỘT TRỤC SÂU MỌT?

Tất cả những tin tưởng tốt lành nói trên sắp bị thử thách. Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, dù người ta tập trung chú ý vào sự kèn cựa giữa Liên Âu và Nga về Ukraine, một biến cố đã đưa đến việc Nga chiếm lấy Krym; hay người ta tập trung chú ý vào cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng cường độ giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Á; hay vào cuộc xung đột giáo phái đang bị thu hút vào các tranh chấp quốc tế hay các nội chiến tại Trung Đông, thì người ta vẫn nhận ra rằng càng ngày thế giới càng có vẻ chưa chịu để lại lịch sử đấu tranh ở đằng sau. Trong những cung cách rất khác nhau, với những mục tiêu rất khác nhau, Trung Quốc, Iran, và Nga cùng nhau đẩy lùi giải pháp chính trị của Chiến tranh Lạnh.

Mối tương quan giữa ba cường quốc xét lại này là phức tạp. Trong trường kỳ, Nga lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thế giới quan của Tehran ít có điểm chung với thế giới quan của Bắc Kinh hay của Moskva. Iran và Nga là những nước xuất khẩu dầu và muốn giá dầu cao; Trung Quốc rốt cuộc vẫn là nước tiêu thụ dầu và muốn giá dầu thấp. Bất ổn chính trị tại Trung Đông có thể làm lợi cho Iranvà Nga nhưng lại đặt ra nhiều rủi ro to lớn cho Trung Quốc. Ta không nên nói đến một liên minh chiến lược giữa ba nước này, và qua thời gian, nếu chúng thành công trong việc phá hoại ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực Á Âu, căng thẳng giữa chúng có khả năng sẽ gia tăng chứ không giảm bớt.

Tuy nhiên, điều kết hợp những cường quốc này lại với nhau chính là sự nhất trí rằng nguyên trạng cần phải được xét lại. Nga muốn tái phục hồi Liên Xô được chừng nào hay chừng ấy. Trung Quốc không có ý định tự mãn với một vai trò thứ yếu trong các vấn đề toàn cầu, đồng thời cũng không chấp nhận mức độ ảnh hưởng hiện nay của Hoa Kỳ tại châu Á và nguyên trạng lãnh thổ [the territorial status quo] tại đó. Iran muốn thay thế trật tự hiện nay tại Trung Đông – một trật tự do Ả Rập Saudi lãnh đạo và bị các quốc gia Ả Rập Hồi giáo Sunni khống chế – bằng một trật tự lấy Tehran làm trung tâm.

Lãnh đạo của ba nước này còn nhất trí với nhau rằng quyền lực Mỹ là trở ngại chính cho việc họ thực hiện các mục tiêu xét lại [revisionist goals] của mình. Thái độ thù địch của họ đối với Washington và trật tự mà Mỹ đặt ra có tính vừa công vừa thủ: không những họ hi vọng rằng sự suy yếu của quyền lực Mỹ sẽ làm cho việc lập lại trật tự mới trong khu vực của họ dễ dàng hơn, mà còn lo ngại rằng Washington có thể ra sức lật đổ họ nếu bất bình của người dân trong nước họ gia tăng. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo xét lại này muốn tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, ngoại trừ trong một số trường hợp hiếm hoi khi tình hình hết sức thuận lợi cho họ (như trong vụ Nga xâm lăng Georgia năm 2008 và chiếm đóng rồi sáp nhập Krym năm nay). Thay vì đối đầu trực tiếp với nguyên trạng, họ tìm cách làm sứt mẻ dần dần các qui phạm và các mối quan hệ vốn đang duy trì nó.

Kể từ khi Obama trở thành tổng thống Mỹ, mỗi một trong ba cường quốc này đã theo đuổi một chiến lược riêng biệt tùy theo chỗ mạnh, yếu của mình. Nghịch lý là, Trung Quốc, quốc gia có nhiều tiềm năng to lớn nhất trong bộ ba, đã gặp nhiều trở ngại nhất. Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm quyết đoán chủ quyền của mình trong khu vực chỉ mang đến hậu quả là làm thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đồng minh châu Á và gia tăng cường độ của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản. Tiềm năng của Bắc Kinh càng lớn, thì ý thức về thất bại sẽ càng sâu sắc. Một sự gia tăng sức mạnh từ phía Trung Quốc sẽ gặp phải một sự gia tăng quyết tâm từ phía Nhật Bản, và các căng thẳng tại châu Á sẽ có khả năng lan tràn sang lãnh vực kinh tế và chính trị toàn cầu.

Iran, quốc gia yếu nhất trong bộ ba này căn cứ trên nhiều thước đo, lại đạt nhiều thành tích nhất. Một kết hợp của việc Mỹ xâm lăng Iraq và việc Mỹ sau đó rút quân ra quá sớm đã giúp Tehran hàn gắn các mối quan hệ sâu sắc và bền vững với các trung tâm quyền lực có ý nghĩa ở bên kia biên giới Iraq, một diễn biến đã làm thay đổi cán cân quyền lực giáo phái và chính trị ở trong khu vực. Tại Syria, Iran, với sự trợ giúp của Hezbolla, một đồng minh lâu đời, đã đủ sức đảo ngược tình hình quân sự và chống đỡ được chính phủ của Bashar al-Assad trước sự phản đối mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ. Sự chiến thắng của chính trị thực tế này đã gia tăng quyền lực và uy tín của Iran một cách đáng kể. Khắp Trung Đông, Mùa Xuân Ả Rập đã làm suy yếu các chế độ Hồi giáo Sunni, đẩy thêm cán cân quyền lực về phía có lợi choIran. Iran cũng hưởng lợi nhờ mối chia rẽ ngày càng tăng giữa các chính phủ Sunni về cách họ phải ứng xử với Tổ chức Huynh đệ Hồi giáo và các chi nhánh và thành viên của nó.

Trong khi đó, Nga xuất hiện như một cường quốc xét lại có thành tích trung bình: mạnh hơn Iran và yếu hơn Trung Quốc, thành công hơn Trung Quốc về địa chiến lược nhưng không thành công bằng Iran. Nga đã đạt một số kết quả vừa phải trong nỗ lực ly gián Đức với Hoa Kỳ, nhưng tham vọng của Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc phục hồi Liên Xô cũ đã trở nên khập khiễng do những giới hạn gay gắt của sức mạnh kinh tế nước ông. Để xây dựng một khối Á-Âu thực sự, như Putin mơ ước thực hiện, Nga sẽ phải cung cấp ngân sách cho các cộng hòa Xô-viết cũ – một điều Nga không đủ sức làm.

Tuy nhiên, bất chấp khả năng hạn chế của mình, Putin đã thành công xuất sắc trong việc làm thất bại các dự án của phương Tây trên lãnh thổ Xô-viết cũ. Ông đã chặn đứng NATO ngay trên con đường bành trướng của nó, đưa Armenia vào quĩ đạo của mình, nắm chặt Krym, và, với sự phiêu lưu của ông tại Ukraine, đã giáng một đòn bất ngờ khiến phương Tây cảm thấy bức xúc và nhục nhã. Từ quan điểm của phương Tây, Putin dường như đang đẩy đất nước mình vào một tương lai đen tối hơn bao giờ hết, để trở thành một quốc gia nghèo và đứng bên lề hệ thống quốc tế. Nhưng Putin không tin rằng lịch sử đã chấm dứt, và từ góc nhìn của ông, ông đã củng cố được quyền lực ở trong nước và đã nhắc nhở các cường quốc thù nghịch ở bên ngoài biết rằng con gấu Nga vẫn còn vuốt sắc.

CÁC THẾ LỰC HIỆN NAY

Những cường quốc xét lại này theo đuổi những nghị trình và có những tiềm năng khác biệt nhau đến nỗi không một nước nào trong nhóm này có thể tạo ra một lực chống đối có hệ thống và mang tính toàn cầu như Liên Xô đã làm trước đây. Do đó, người Mỹ đã chậm nhận ra rằng những quốc gia này đã làm lung lay trật tự địa chính trị Á Âu trong những cung cách gây khó khăn cho Mỹ và châu Âu trong nỗ lực xây dựng một thế giới hậu-lịch sử, đôi bên đều có lợi [a post-historical, win-win world].

Tuy vậy, người ta vẫn có thể chứng kiến các hậu quả của hành vi xét lại này ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Đông Á, mặc dù lập trường ngày một quyết đoán của Trung Quốc chưa đạt nhiều tiến độ địa chính trị cụ thể, nhưng trên cơ bản nó đã thay đổi động lực tương tác chính trị trong một khu vực hiện có những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chính trị châu Á ngày nay xoay quanh sự kèn cựa giữa các dân tộc, các đòi hỏi chủ quyền xung đột nhau, các nỗ lực tăng cường hải quân, và các vấn đề lịch sử tương tự. Cuộc phục sinh của chủ nghĩa dân tộc tại Nhật Bản, một đáp trả trực tiếp đối với nghị trình của Trung Quốc, đã làm phát sinh một tiến trình theo đó chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy ở nước này sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc ở nước kia. Trung Quốc và Nhật Bản đang tăng cường giọng điệu cứng rắn, gia tăng ngân sách quân sự của mỗi bên, khởi động các cuộc khủng hoảng song phương với tần suất cao hơn, và ngày càng tập trung vào cuộc tranh giành có bên thắng bên thua [zero-sum competition].

Mặc dù Liên Âu vẫn còn ở trong những giờ phút hậu-lịch sử [trong quan niệm cho rằng lịch sử đấu tranh ý thức hệ đã hoàn toàn chấm dứt], nhưng những cộng hòa nằm ngoài khối Liên Âu và thuộc Liên Xô cũ lại đang sống trong một thời đại rất khác. Trong vài năm qua, những hi vọng về việc chuyển đổi Liên Xô cũ thành một khu vực hậu-lịch sử đã phai tàn. Việc Nga chiếm Ukraine chỉ là bước mới nhất trong một loạt diễn biến đã biến Đông Âu thành một khu vực xung đột địa chiến lược gay gắt, khiến cho việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ vững chắc và hữu hiệu trở nên khó thực hiện bên ngoài các quốc gia Baltic và Ba Lan.

Tại Trung Đông, tình hình thậm chí còn gay gắt hơn. Những ước mơ rằng thế giới Ả Rập đang tiến đến điểm chuyển đổi sang thể chế dân chủ – những ước mơ đã tạo hình dáng và phẩm chất của chính sách Hoa Kỳ dưới chính quyền Bush lẫn Obama – cũng đã phai tàn. Thay vì xây dựng một trật tự thông thoáng trong khu vực, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ đang phải đối phó với sự tan rã của hệ thống nhà nước đã được khai sinh từ hiệp ước Sykes-Picot năm 1916, một hiệp ước đã chia cắt các vùng trong Đế quốc Ottoma, trong khi việc điều hành quốc gia đang bị xói mòn tại Iraq, Lebanon, và Syria. Obama đã cố gắng hết sức để tách rời vấn đề địa chính trị trong việc Iran bành trướng quyền lực nhanh chóng khắp khu vực khỏi vấn đề nước này phải tuân theo Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí hạt nhân, nhưng những lo lắng của lãnh đạo Israel và Ả Rập Saudi về những tham vọng khu vực của Iran đang làm cho nỗ lực của Obama càng khó thực hiện. Một cản trở khác cho việc đạt được thỏa ước với Iran chính là Nga, một cường quốc đã sử dụng địa vị của mình trong Hội đồng Bảo an LHQ và việc hậu thuẫn cho Assad để đẩy lùi các mục tiêu của Mỹ tạiSyria.

Nga xem ảnh hưởng của mình tại Trung Đông như là một tài sản quan trọng trong cuộc cạnh tranh quyền lực với Mỹ. Điều này không có nghĩa là Moskva sẽ theo phản xạ chống lại các mục tiêu của Mỹ trong mọi trường hợp, nhưng có nghĩa là những kết quả mang lại lợi ích cho cả đôi bên [the win-win outcomes] mà lãnh đạo Mỹ sốt sắng tìm kiếm đôi khi sẽ bị hi sinh vì những lợi ích địa chính trị của Nga. Trong việc quyết định cần phải mạnh tay như thế nào với Nga về vấn đề Ukraine, Nhà Trắng không thể tránh né việc cân nhắc hậu quả đối với lập trường của Nga về cuộc chiến Syria hay về chương trình hạt nhân củaIran. Nga không thể biến mình thành một nước giàu có hơn hay rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay, nhưng nó đã làm cho mình trở thành một yếu tố quan trọng trong tư duy chiến lược của Mỹ, và Nga có thể sử dụng lợi thế này để đòi hỏi các nhượng bộ quan trọng đối với mình.

Nếu những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại này đã thắng thế, thì sức mạnh của những cường quốc muốn duy trì nguyên trạng đã bị xói mòn. Tình trạng suy yếu này diễn ra rõ nét nhất tại châu Âu, nơi mà cái thảm họa không suy giảm của đồng tiền chung đã chia rẽ công luận và buộc Liên Âu phải xoay hướng tập trung vào bên trong. Liên Âu có lẽ đã tránh được hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra của cuộc khủng hoảng đồng euro, nhưng cả ý chí lẫn khả năng để hành động có hiệu quả ở ngoài biên giới của mình đã bị tổn thương đáng kể.

Hoa Kỳ đã không kinh qua một thiệt hại to lớn nào tương tự như nỗi đau kinh tế mà phần lớn châu Âu đã trải qua, nhưng vì Mỹ cũng đang đối diện nhiều vấn đề, gồm cái dư vị trong chính sách đối ngoại do những cuộc chiến của Bush để lại, một nhà nước giám sát ngày càng xâm phạm đời tư công dân, một cuộc hồi phục kinh tế chậm chạp, và một luật cải tổ y tế bị nhiều người chống đối, tâm lý công chúng đã trở nên chán chường. Cả bên cánh Tả lẫn bên cánh Hữu, người Mỹ đang đặt nghi vấn về những lợi ích của trật tự thế giới hiện nay và về khả năng của những kiến trúc sư đã tạo ra nó. Ngoài ra, dân chúng cũng chia sẻ sự đồng thuận của giới cầm quyền rằng trong một thế giới hậu-Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ nhất định có thể đóng góp ít hơn vào hệ thống quốc tế và rút ra nhiều lợi lộc hơn. Khi điều đó không xảy ra, người dân bèn đổ lỗi cho lãnh đạo. Dẫu sao, người dân Mỹ không còn mấy thiết tha đối với các sáng kiến đồ sộ mới mẻ ở trong cũng như ngoài nước. Một quần chúng yếm thế đang trở nên thờ ơ với một Washington phân cực, bằng một thái độ vừa chán chường vừa khinh bỉ.

Obama lên cầm quyền với kế hoạch cắt giảm chi tiêu quân sự và thu nhỏ tầm quan trọng của chính sách đối ngoại trong chính trị Mỹ trong lúc tăng cường trật tự thế giới tự do. Nhưng hiện nay, hơn nửa đoạn đường trong chức vụ tổng thống, Obama thấy mình bị sa lầy vào chính những hình thức tranh đua địa chính trị mà trước đây ông từng hi vọng có thể vượt qua. Chính sách phục thù của Trung Quốc, Iran, và Nga chưa lật đổ được sự dàn xếp hậu-Chiến tranh Lạnh tại khu vực Á Âu, và có lẽ không bao giờ làm được điều này, nhưng nó đã biến một nguyên trạng không tranh chấp [uncontested status quo] thành một nguyên trạng bị tranh chấp. Các tổng thống Mỹ không còn tự do hành động khi họ tìm cách củng cố hệ thống tự do; càng ngày họ càng bận tâm với việc chống đỡ những nền tảng địa chính trị của hệ thống này.

HOÀNG HÔN CỦA LỊCH SỬ

Chính vì cách đây 22 năm Fukuyamađã cho xuất bản cuốn The End of History and the Last Man (Cáo chung của Lịch sử và Con người Cuối cùng) mà người ta có xu thế coi sự tái xuất của địa chính trị là một cách bác bỏ dứt khoát luận thuyết của ông. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Như Fukuyama đã nhắc nhở người đọc, tận cùng của lịch sử là ý kiến của Hegel, và mặc dù loại hình nhà nước cách mạng đã vĩnh viễn chiến thắng loại hình chế độ cũ, Hegel lý luận, cạnh tranh và xung đột sẽ còn tiếp tục diễn ra. Ông tiên đoán rằng những xáo trộn chính trị sẽ xảy ra trong các lãnh thổ, ngay cả khi các vùng trung tâm của văn minh châu Âu đi vào một thời kỳ hậu-lịch sử (post-historical time). Giả dụ các lãnh thổ trong quan niệm của Hegel gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga, chắc chắn người ta sẽ không ngạc nhiên rằng hơn hai thế kỷ sau, những xáo trộn kia vẫn chưa chấm dứt. Chúng ta đang sống trong buổi hoàng hôn của lịch sử chứ không sống vào thời điểm lịch sử đã thật sự cáo chung.

Ngày nay, một quan niệm về tiến trình lịch sử theo kiểu Hegel sẽ cho rằng kể từ đầu thế kỷ 19 đến nay tiến trình này vẫn không mấy thay đổi. Để được hùng mạnh, các quốc gia phải phát triển những tư duy và những định chế có thể cho phép họ sử dụng các lực vô cùng to lớn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và thông tin. Ngoài ra, không còn có một con đường nào khác; xã hội nào không đủ sức hoặc không muốn đi theo con đường này cuối cùng sẽ trở thành kẻ tuân theo mệnh lệnh của lịch sử chứ không thể làm nên lịch sử.

Nhưng con đường dẫn đến thời hậu hiện đại [postmodernity] vẫn còn nhiều gập ghềnh. Để tăng cường quyền lực của mình, Trung Quốc, chẳng hạn, rõ ràng sẽ phải đi qua một tiến trình phát triển kinh tế và chính trị, đòi hỏi nước này phải khắc phục những vấn đề mà các xã hội phương Tây đã và đang đối phó. Nhưng, vẫn không có gì đảm bảo rằng con đường mà Trung Quốc sử dụng để đi tới tình trạng hiện đại tự do và ổn định sẽ ít hỗn độn hơn con đường mà Đức đã đi qua, chẳng hạn. Buổi hoàng hôn của lịch sử không phải là một thời gian yên ắng.

Phần hai cuốn sách của Fukuyama ít được chú ý vì không làm hài lòng người phương Tây. Khi Fukuyama tìm hiểu một xã hội hậu-lịch sử sẽ giống như thế nào, ông đã phát hiện một hình ảnh đáng lo ngại. Trong một thế giới mà những vấn đề lớn đã được giải quyết xong và lãnh vực địa chính trị đã nhường bước cho lãnh vực kinh tế, nhân loại trông sẽ giống như “con người cuối cùng” theo chủ nghĩa hư vô mà triết gia Friedrich Nietzche đã mô tả: đó là người tiêu thụ chỉ biết chăm chút chính mình mà không còn khát vọng nào lớn hơn ngoài chuyến đi mua sắm tiếp theo.

Nói cách khác, những người này sẽ gần giống giới quan liêu châu Âu và giới vận động hành lang tại Washington ngày nay. Họ có thừa khả năng để quản lý công việc của mình trong xã hội hậu-lịch sử, nhưng hiểu được các động cơ và chống lại được những chiến lược của các lãnh đạo chính trị cường quốc kiểu cũ là việc khó đối với họ. Khác với những đối thủ của họ vừa kém năng suất vừa thiếu ổn định, những con người hậu lịch sử không biết hi sinh, chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, dễ dàng bị lung lạc, và thiếu can đảm.

Thực tế của đời sống cá nhân và sinh họat chính trị tại những xã hội hậu lịch sử là rất khác với thực tế tại những nước như Trung Quốc, Iran, và Nga, nơi mà mặt trời lịch sử vẫn đang chiếu sáng. Những xã hội khác biệt này không những đề cao các nhân cách và giá trị khác biệt, mà các định chế của chúng cũng hoạt động kiểu khác và dân chúng ở đó chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng kiểu khác.

Các xã hội gồm toàn những con người cuối cùng của Nietzche có đặc tính là hiểu sai và đánh giá thấp những đối thủ mà họ cho là bán khai trong những xã hội mà họ cho là lạc hậu – một điểm mù có thể, chí ít tạm thời, xoá bỏ những lợi thế khác của nước họ. Trào lưu lịch sử có thể đang chảy không ngừng về hướng thể chế dân chủ tư bản tự do, và mặt trời lịch sử có thể đang thật sự khuất sau những rặng đồi. Nhưng thậm chí khi bóng đêm len xuống và vì sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời thì những nhân vật như Putin vẫn còn sải bước trên sân khấu thế giới. Họ sẽ không nhẹ nhàng đi vào cái đêm an lành kia, mà bằng tất cả cuồng nộ, họ sẽ chống lại sự lụi tắt của ánh sáng.

__________

WALTER RUSSELL MEAD là Giáo sư về Các Vấn đề Đối ngoại và Khoa học Nhân văn tại Đại học Bard và là Cộng tác viên của The American Interest.

2- Lạc quan

Ảo tưởng địa chính trị – Sức mạnh bền vững của trật tự tự do

G. John Ikenberry 

Walter Russell Mead vẽ một bức tranh nhiễu loạn về tình trạng khó xử của Hoa Kỳ trong lãnh vực địa chính trị. Theo quan điểm của ông, một liên minh ngày càng đáng sợ của các cường quốc phi tự do –Trung Quốc, Iran, và Nga – đang quyết tâm phá hoại sự dàn xếp sau Chiến tranh Lạnh và trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo vốn đứng đằng sau sự dàn xếp ấy. Khắp khu vực Á Âu, ông lý luận, nhóm quốc gia thù hận này đang ra sức xây dựng các vùng ảnh hưởng nhằm đe dọa các nền tảng của vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ và trật tự toàn cầu. Vì vậy, Hoa Kỳ cần phải xét lại thái độ lạc quan của mình, gồm sự cả tin phát sinh sau Chiến tranh Lạnh cho rằng các quốc gia đang trỗi dậy bên ngoài phương Tây có thể được thuyết phục gia nhập khối này và chơi theo luật lệ của nó. Theo Mead, đã đến lúc phải đối đầu với những đe dọa từ những kẻ thù địa chính trị ngày càng nguy hiểm này.

Nhưng chủ nghĩa báo động [alarmism] của Mead đặt cơ sở trên một nhận thức sai lầm vô cùng to lớn về thực tế quyền lực hiện đại. Đó là một nhận thức sai lầm về logic và đặc tính của trật tự thế giới hiện hữu, vốn ổn định và có sức bành trướng hơn cách Mead mô tả; nhận thức này đã khiến ông đánh giá quá cao khả năng của “trục sâu mọt” [the axis of weevils] trong việc phá hoại trật tự tự do. Và đó là một nhận thức sai lầm về Trung Quốc và Nga, vốn không phải là những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại trên qui mô lớn, mà bất quá chỉ là những kẻ phá đám bán thời gian [part-time spoilers]; hai nước này cũng nghi ngờ lẫn nhau như họ đang nghi ngờ thế giới bên ngoài. Đúng là, họ tìm cơ hội để chống lại vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ, và gần đây, cũng như trong quá khứ, họ đã cố đẩy lùi vai trò này của Mỹ, đặc biệt khi họ bị đối đầu ngay trong khu vực láng giềng của mình. Nhưng ngay cả những xung đột này cũng được nuôi dưỡng bởi sự yếu kém chứ không bởi sức mạnh của lãnh đạo và chế độ của họ. Những nước này không có một thương hiệu hấp dẫn nào đối với thế giới. Và khi cần theo đuổi những lợi ích quan trọng hàng đầu của mình, Nga và, đặc biệt là, Trung Quốc lại sẵn sàng hội nhập sâu đậm vào nền kinh tế thế giới và các định chế điều hành nó.

Mead còn mô tả sai lạc đặc tính cốt lõi của chính sách đối ngoại Mỹ. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Mead lý luận, Hoa Kỳ đã bỏ qua những vấn đề địa chính trị liên quan đến lãnh thổ và các vùng ảnh hưởng và thay vào đó đã quá lạc quan khi tập trung vào việc xây dựng trật tự toàn cầu. Nhưng đây là một phân tích sai lạc, bằng cách chẻ đôi vấn đề thành hai phần tương khắc. Hoa Kỳ không tập trung vào những vấn đề liên quan đến trật tự toàn cầu, như kiểm soát vũ khí và mậu dịch, chỉ vì họ cho rằng xung đột địa chính trị đã chấm dứt vĩnh viễn; sở dĩ họ theo đuổi những nỗ lực này chính vì họ muốn quản lý sự cạnh tranh giữa các đại cường. Nỗ lực xây dựng trật tự toàn cầu không đặt cơ sở trên sự cáo chung của địa chính trị; mục đích của nó là làm thế nào để giải quyết các vấn đề to lớn trong lãnh vực địa chính trị.

Thật vậy, việc xây dựng một trật tự toàn cầu do Hoa Kỳ lãnh đạo không bắt đầu với sự cáo chung của Chiến tranh Lạnh; chính nó đã giành thắng lợi trong Chiến tranh Lạnh cho phương Tây. Trong gần 70 năm kể từ Thế chiến II chấm dứt, Washington đã theo đuổi những nỗ lực bền bỉ trong việc xây dựng một hệ thống rộng lớn gồm những định chế đa phương, những liên minh, những thỏa ước mậu dịch, và những đối tác chính trị. Dự án này đã giúp thu hút nhiều nước vào quĩ đạo của Hoa Kỳ. Nó đã giúp tăng cường các qui phạm và luật lệ toàn cầu, làm suy giảm tính chính đáng của các vùng ảnh hưởng kiểu thế kỷ 19, chặn đứng các mưu đồ thống trị khu vực và chiếm đoạt lãnh thổ [của chủ nghĩa thực dân]. Và dự án này đã mang lại cho Hoa Kỳ những tiềm năng, những đối tác, và những nguyên tắc để đối đầu với những đại cường phá hoại và theo chủ nghĩa xét lại ngày nay, như đang diễn ra. Các liên minh, các đối tác, chủ nghĩa đa phương, thể chế dân chủ – đây chính là những công cụ trong vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ, và chúng đang thắng, chứ không phải đang thua, trong những cuộc đấu tranh về địa chính trị và trật tự thế giới của thế kỷ 21.

NGƯỜI KHỔNG LỒ QUÂN TỬ

Năm 1904, nhà nghiên cứu địa lý Anh Halford Mackinder đã viết rằng đại cường nào kiểm soát được vùng trung châu của khu vực Á Âu thì sẽ thống lĩnh luôn “Đảo Thế giới này” và nhờ đó thống lĩnh toàn thế giới. Trong quan điểm của Mead, khu vực Á Âu đã tái xuất hiện như một giải thưởng vĩ đại trong lãnh vực địa chính trị. Khắp những vùng xa xôi của siêu lục địa này, ông lý luận, Trung Quốc, Iran, và Nga đang tìm cách thiết lập vùng ảnh hưởng của mình và thách đố các lợi ích của Mỹ, dần dà nhưng không ngớt toan tính thống trị khu vực Á Âu và vì thế đe dọa Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới.

Viễn kiến này không nắm bắt được một thực tế sâu sắc hơn. Trong các vấn đề địa chính trị (chưa nói đến các lãnh vực dân số, chính trị và tư tưởng), Hoa Kỳ có một lợi thế quyết định so với Trung Quốc,Iran, và Nga. Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ không còn ở điểm đỉnh bá quyền mà họ chiếm giữ trong thời kỳ đơn cực [the unipolar era], quyền lực Mỹ vẫn còn là vô địch. Sự giàu có và các lợi thế công nghệ của Hoa Kỳ vẫn còn nằm ngoài tầm với của Trung Quốc và Nga, đừng nói chi đếnIran. Kinh tế Mỹ đang phục hồi, được các nguồn khí đốt thiên nhiên khổng lồ mới khai thác tiếp sức, cho phép Hoa Kỳ duy trì một sự hiện diện quân sự toàn cầu và các cam kết an ninh đáng tin cậy.

Thật vậy, Washington thừa hưởng một khả năng độc đáo trong việc chinh phục bạn bè và ảnh hưởng lên các quốc gia. Theo một nghiên cứu do nhà chính trị học Brett Ashley Leeds hướng dẫn, Hoa Kỳ có đối tác quân sự với hơn 60 nước, trong khi Nga đếm được tám đồng minh chính thức và Trung Quốc chỉ vỏn vẹn có một mà thôi (Bắc Triều Tiên). Như một nhà ngoại giao Anh đã nói với tôi cách đây dăm bảy năm, “Trung Quốc không tỏ ra muốn lập các liên minh.” Nhưng Hoa Kỳ muốn làm điều này, và các liên minh này đã mang đến hai mối lợi cùng một lúc: không những chúng cung cấp một bệ phóng cho quyền lực toàn cầu của Mỹ, mà còn phân phối gánh nặng duy trì an ninh với các đồng minh. Các tiềm năng quân sự tích lũy trong hệ thống liên minh do Mỹ lãnh đạo này đã vượt hẳn lên trên bất cứ sức mạnh nào mà Trung Quốc hoặc Nga có thể tạo ra trong nhiều thập kỷ tới.

Lại còn có vấn đề vũ khí hạt nhân. Những vũ khí này, cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Nga đều có (và Iran đang theo đuổi), sẽ giúp cho Hoa Kỳ theo hai cách sau đây. Một, nhờ cái logic hai bên chắc chắn có thể hủy diệt lẫn nhau [mutual assured destruction], sự thủ đắc vũ khí hạt nhân sẽ cực kỳ giảm bớt khả năng đưa đến chiến tranh giữa các đại cường. Các đại loạn thuộc loại này đã từng tạo cơ hội cho các đại cường trong quá khứ, kể cả Hoa Kỳ trong Thế chiến II, củng cố trật tự quốc tế của mình. Nhưng thời đại hạt nhân đã cướp mất của Trung Quốc và Nga cơ hội này. Hai, vũ khí hạt nhân cũng làm cho Trung Quốc và Nga cảm thấy an toàn hơn, giúp họ yên chí rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ xâm lăng họ. Đó là điều tốt, vì nó giảm bớt khả năng họ sẽ dùng đến những nước cờ tuyệt vọng, phát sinh từ bất ổn, có nguy cơ đưa đến chiến tranh và phá hoại trật tự tự do.

Vị trí địa lý còn tăng cường các lợi thế khác của Hoa Kỳ. Là đại cường duy nhất không bị các đại cường khác vây quanh, Hoa Kỳ tỏ ra ít đe dọa đối với các quốc gia khác và nhờ đó có thể trỗi dậy nhanh chóng trong thế kỷ trước mà không kích nổ một cuộc chiến tranh. Sau Chiến tranh Lạnh, trong giai đoạn Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất trên thế giới, các cường quốc toàn cầu khác, ở bên kia đại dương, thậm chí đã không toan tính quân bình lực lượng với Mỹ. Trên thực tế, vị trí địa lý cô lập của Hoa Kỳ đã khiến các quốc gia khác lo ngại bị bỏ rơi hơn là bị khống chế. Các đồng minh của Mỹ tại châu Âu, châu Á, và Trung Đông đã tìm cách lôi kéo Hoa Kỳ vào việc đóng một vai trò to lớn hơn trong khu vực của mình. Việc này đưa đến cái mà Geir Lundestad gọi là “một đế quốc do mời gọi”.

Lợi thế địa lý của Hoa Kỳ được phơi bày trọn vẹn tại châu Á. Hầu hết mọi quốc gia tại đây đều coi Trung Quốc là một mối nguy tiềm năng lớn hơn Hoa Kỳ – vì Trung Quốc nằm sát bên cạnh, nếu không phải một lý do khác. Ngoài Hoa Kỳ ra, mọi cường quốc chính trên thế giới đều sống trong một khu láng giềng địa chính trị chen chúc, tại đó những chuyển dịch quyền lực thường xuyên kích động các nỗ lực đối trọng [provoke counterbalancing] – kể cả giữa họ với nhau. Trung Quốc hiện đang phát hiện động lực tương tác này khi các quốc gia láng giềng phản ứng lại sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách hiện đại hóa quân đội và tăng cường các liên minh của mình. Nga biết điều này từ nhiều thập kỷ nay, và gần đây nhất đã đối diện thực tế tại Ukraine, một quốc gia trong những năm gần đây đã gia tăng chi tiêu quân sự và theo đuổi các quan hệ gần gũi hơn với EU.

Tính cô lập địa lý còn cho Hoa Kỳ lý do để cổ vũ các nguyên tắc phổ quát cho phép họ tiếp cận nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Từ lâu, Hoa Kỳ vốn là nước theo đuổi chính sách mở cửa và nguyên tắc dân tộc tự quyết, đồng thời chống lại chủ nghĩa thực dân – vì lý tưởng thì ít, mà vì những lý do thực tiễn thì nhiều, trong nỗ lực biến châu Âu, châu Á, và Trung Đông thành những khu vực cởi mở đối với thương mại và ngoại giao. Vào những năm cuối của thập niên 1930, câu hỏi chủ yếu đối với Hoa Kỳ là, Mỹ sẽ cần đến một không gian địa chính trị, hay “đại địa bàn” rộng lớn bao nhiêu để tồn tại như một đại cường trong một thế giới gồm những đế quốc, những khối liên minh khu vực, và những vùng ảnh hưởng. Thế chiến II đã cho một câu trả lời rõ ràng: sự phồn thịnh và an ninh của nước Mỹ tuỳ vào khả năng tiếp cận với mọi khu vực. Và trong những thập niên tiếp theo, với một vài ngoại lệ nghiêm trọng và gây tổn thất, như Chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã theo đuổi những nguyên tắc hậu đế quốc [postimperial principles].

Chính trong những năm hậu chiến này, địa chính trị và nỗ lực xây dựng trật tự thế giới đã hòa nhập vào nhau. Một khuôn khổ quốc tế tự do là câu trả lời mà các chính khách tài ba như Dean Acheson, George Kennan, và George Marshall đã đưa ra trước sự thách thức của chủ nghĩa bành trướng Xô-viết. Hệ thống mà họ xây dựng đã gia tăng sức mạnh và làm giàu cho Hoa Kỳ và các đồng minh, gây tổn thất cho các địch thủ phi tự do [illiberal opponents] của nó. Hệ thống này còn ổn định được kinh tế thế giới và thiết lập các cơ chế để đối phó với các vấn đề toàn cầu. Sự cáo chung của Chiến tranh Lạnh không hề thay đổi cái logic từng chống đỡ dự án này.

May mắn là, những nguyên tắc tự do mà Washington thúc đẩy có sức thu hút gần như phổ quát, vì chúng có xu thế là rất phù hợp với các lực hiện đại hóa của việc tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Như sử gia Charles Maier viết, Hoa Kỳ đã cỡi được cơn sóng hiện đại hóa của thế kỷ 20. Nhưng một số học giả lại tranh luận rằng sự phù hợp giữa dự án của Mỹ và các lực hiện đại hóa đã giảm bớt trong những năm gần đây. Theo quan niệm này, cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử thế giới, theo đó Hoa Kỳ đã đánh mất vai trò tiên phong trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.

Nhưng thậm chí nếu điều này có thực sự xảy ra đi nữa, người ta vẫn không suy diễn rằng Trung Quốc và Nga đã thay thế Hoa Kỳ cầm cờ đi tiên phong trong mặt trận kinh tế toàn cầu. Ngay cả Mead cũng không tranh luận rằng Trung Quốc, Iran, và Nga có thể cống hiến cho thế giới một mô hình mới về tính hiện đại. Nếu những cường quốc phi tự do này muốn thật sự đe dọa Washington và phần còn lại của thế giới tư bản tự do, thì họ cần phải phát hiện được đợt sóng hiện đại hóa vĩ đại sắp đến và phải cỡi lên nó. Họ không có khả năng làm điều này.

SỰ TRỖI DẬY CỦA DÂN CHỦ

Viễn kiến của Mead về một cuộc đọ sức tại khu vực Á Âu giữa một bên là Hoa Kỳ và bên kia là Trung Quốc, Iran, và Nga đã bỏ qua một chuyển đổi quyền lực sâu sắc hơn đang diễn ra: sự vươn dậy ngày một lớn mạnh của thể chế dân chủ tư bản tự do. Đành rằng, nhiều nước dân chủ tự do ở thời điểm này đang vật lộn với tăng trưởng kinh tế chậm chạp, bất bình đẳng xã hội, và bất ổn chính trị. Nhưng sự bành trướng của thể chế dân chủ tự do khắp thế giới, bắt đầu cuối thập niên 1970 và tăng tốc sau Chiến tranh Lạnh đã nhanh chóng tăng cường địa vị của Hoa Kỳ và thắt vòng vây địa chiến lược quanh Trung Quốc và Nga.

Người ta dễ dàng quên rằng trước đây thể chế dân chủ hãy còn rất hiếm hoi. Mãi đến Thế kỷ 20, thể chế này chỉ có ở phương Tây và một số nước châu Mỹ La tinh. Nhưng sau Thế chiến II, nó bắt đầu vượt ra ngoài biên giới của những khu vực này, khi những quốc gia mới được độc lập dựng nên chế độ tự trị. Trong những thập niên 1950, 1960, và đầu thập niên 1970, các cuộc đảo chính quân sự và các nhà độc tài mới đã kềm hãm tiến trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ. Nhưng vào cuối thập niên 1970, cái mà nhà nghiên cứu chính trị Samuel Huntington gọi là “đợt sóng dân chủ hóa thứ ba” đã tràn qua miền Nam châu Âu, Châu Mỹ La tinh, và Đông Á. Tiếp đến, Chiến tranh Lạnh kết thúc, và một loạt gồm các quốc gia cộng sản trước đó tại Đông Âu được đưa vào nếp sống dân chủ. Vào cuối thập niên 1990, 60 phần trăm toàn thể các nước trên thế giới đã trở thành các quốc gia dân chủ.

Mặc dù có tình trạng thoái trào diễn ra tại một số quốc gia, nhưng xu thế có ý nghĩa hơn lại là sự xuất hiện một nhóm các cường quốc dân chủ bậc trung, gồm Australia, Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Nam Hàn, và Thổ Nhĩ Kỳ. Những cường quốc dân chủ mới trỗi dậy này đang đóng vai trò những thành viên có trách nhiệm [stakeholders] trong hệ thống quốc tế: đẩy mạnh hợp tác đa phương, theo đuổi những quyền lợi và trách nhiệm lớn hơn, và thể hiện ảnh hưởng của mình thông qua các phương tiện hòa bình.

Những nước nói trên tăng thêm trọng lượng địa chính trị của trật tự thế giới tự do. Như nhà nghiên cứu chính trị Larry Diamond nhận xét, nếu Argentina, Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi, và Thổ Nhĩ Kỳ lấy lại thế đứng kinh tế và tăng cường chế độ dân chủ của mình, thì Nhóm G-20, trong đó có cả Hoa Kỳ và các nước châu Âu, “sẽ trở thành một ‘câu lạc bộ dân chủ’ hùng mạnh, chỉ có Nga, Trung Quốc, và Ả Rập Saudi còn bám víu mà thôi.” Sự trỗi dậy của một tầng lớp trung lưu toàn cầu gồm các quốc gia dân chủ sẽ biến Trung Quốc và Nga thành những kẻ đứng ngoài – chứ không phải là những đối thủ chính đáng trong việc tranh giành vai trò lãnh đạo toàn cầu, như Mead lo ngại.

Trên thực tế, sự trỗi dậy của làn sóng dân chủ đã trở thành vấn đề nghiêm trọng cho cả Nga lẫn Trung Quốc. Tại Đông Âu, các quốc gia và các chư hầu Xô-viết cũ đã theo thể chế dân chủ và gia nhập phương Tây. Mặc dù các nước cờ của Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Crimea là đáng lo ngại, nhưng chúng phản ánh thế yếu chứ không phải thế mạnh địa chính trị của Nga. Trong hai thập kỷ vừa qua, phương Tây đã dần dần tiến tới gần biên giới Nga. Năm 1999, Cộng hòa Séc, Hungary, và Ba Lan gia nhập NATO. Năm 2004 có thêm bảy thành viên của khối Xô-viết cũ nối đuôi những nước này để gia nhập NATO, và năm 2009 Albania và Croatia cũng làm như thế. Trong khi đó, có thêm sáu cộng hòa Xô-viết cũ đã đi theo con đường dẫn đến địa vị thành viên của NATO bằng cách tham gia chương trình Đối tác vì Hòa bình của khối này. Mead chú trọng quá nhiều vào những thành công của Putin tại Georgia, Armenia, và Crimea. Tuy nhiên, dù Putin đang thắng vài trận nhỏ, ông lại đang thua một cuộc chiến. Nga không ở trong thế đi lên; trái lại, Nga đang trải qua một trong những mất mát địa chính trị lớn nhất so với bất cứ cường quốc quan trọng nào trong thời hiện đại.

Thể chế dân chủ cũng đang bao vây Trung Quốc. Vào giữa thập kỷ 1980, chỉ có Ấn Độ và Nhật Bản là những nước dân chủ duy nhất tại châu Á, nhưng sau đó, Indonesia, Mongolia, Philippines, Nam Hàn, Đài Loan, và Thái Lan đã gia nhập câu lạc bộ này. Gần đây Myanma (còn gọi là Miến Điện) đã thực hiện những bước dè dặt tiến tới chế độ đa đảng – việc này đã diễn ra đồng bộ với những quan hệ đang trở nên nồng ấm với Hoa Kỳ, điều mà Trung Quốc không thể không để ý. Trung Quốc đang sống trong một khu vực gồm tuyệt đại đa số láng giềng theo dân chủ.

Những chuyển đổi chính trị nói trên đã đặt Trung Quốc và Nga vào thế thủ. Bây giờ xin xét đến các diễn biến gần đây tại Ukraine. Những động thái kinh tế và chính trị trong đại bộ phận nước này đang hướng về phương Tây một cách không khoan nhượng, một xu thế đang làm Putin hoảng sợ. Ông chỉ còn trông cậy vào sức mạnh cơ bắp để o ép Ukrainevào thế chống lại EU và ở lại trong quĩ đạo của Nga. Mặc dù Putin có thể đủ sức kềm kẹp Crimea dưới quyền kiểm soát của mình, nhưng nắm tay bấu víu của ông trên phần còn lại của Ukraine đang tuột dần. Như nhà ngoại giao EU, ông Robert Cooper, đã nhận xét, Putin có thể cố gắng làm trì hoãn cái thời điểm Ukraine “liên minh với EU, nhưng ông ta không thể chặn đứng được việc này.” Thật vậy, thậm chí Putin không có khả năng thể hiện sự trì hoãn này, vì những nước cờ khiêu khích của ông có thể chỉ thúc nhanh chuyển động của Ukraine hướng về châu Âu.

Trung Quốc cũng đối diện một nan đề tương tự tại Đài Loan. Các lãnh đạo Trung Quốc thực tâm tin rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng người Đài Loan không nghĩ như vậy. Cuộc chuyển đổi dân chủ trên đảo này đã khiến những đòi hỏi độc lập quốc gia của người dân trở nên vừa bức thiết vừa chính đáng hơn. Một thăm dò năm 2011 cho thấy rằng nếu người Đài Loan có thể được trấn an là Trung Quốc sẽ không tấn công Đài Loan, 80% dân chúng đảo này sẽ ủng hộ việc tuyên bố độc lập. Cũng như Nga, Trung Quốc muốn duy trì quyền kiểm soát địa chính trị đối với các nước láng giềng. Nhưng sự bành trướng của thể chế dân chủ đến mọi khu vực tại châu Á đã khiến Bắc Kinh chỉ còn cách duy nhất là áp đặt ách thống trị lỗi thời [old-fashioned domination] để đạt mục tiêu địa chiến trị của mình, và phương án này là rất tốn kém và tự chuốc lấy thất bại.

Trong khi sự trỗi dậy của các quốc gia dân chủ gây nhiều khó khăn cho Trung Quốc và Nga, thì sự thể này lại giúp thế giới trở nên an toàn hơn trước mắt Hoa Kỳ. Hai cường quốc nói trên được coi là đối thủ của Hoa Kỳ, nhưng sự cạnh tranh đã diễn ra trên một sân chơi rất gập ghềnh đối với họ: Hoa Kỳ có nhiều nước bạn nhất, và cũng là những nước bạn có khả năng nhất. Ngân sách quốc phòng của Washington và đồng minh của Mỹ chiếm đến 75 phần trăm chi phí quân sự toàn cầu. Tiến trình dân chủ hóa [tại khu vực Á Âu] đã nhốt Trung Quốc và Nga trong một chiếc hộp địa chính trị.

Iran không bị các nước dân chủ bao vây, nhưng nó bị đe dọa bởi một phong trào đòi hỏi dân chủ đầy bất ổn ở trong nước. Nghiêm trọng hơn nữa, Iran là thành viên yếu kém nhất trong trục [xét lại] của Mead, với một nền kinh tế và một lực lượng quân sự nhỏ bé hơn nhiều so với Hoa Kỳ và hai đại cường kia. Iran còn là mục tiêu của một chế độ trừng phạt quốc tế mạnh mẽ nhất từ trước tới nay mà LHQ có thể huy động được, nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc và Nga. Chính sách ngoại giao đối với Iran của chính quyền Obama có thể thành công hoặc không thành công, nhưng một chính sách khác theo ý Mead để ngăn chặn nước này thủ đắc vũ khí hạt nhân thì lại không rõ ràng. Đường lối của Tổng thống Mỹ Barack Obama có ưu điểm là đưa ra một lộ trình theo đó Tehran có thể chuyển đổi từ một cường quốc khu vực thù nghịch thành một thành viên phi hạt nhân có tinh thần xây dựng của cộng đồng quốc tế – một nước có tiềm năng thay đổi trò chơi địa chính trị mà Mead không đánh giá cao.

XÉT LẠI CHỦ NGHĨA XÉT LẠI

Không những Mead đánh giá thấp sức mạnh của Hoa Kỳ và trật tự mà nó đã xây dựng; ông còn cường điệu mức độ mà Trung Quốc và Nga đang ra sức chống lại hai đối tượng này. (Gác tham vọng hạt nhân qua một bên, Iran trông giống một quốc gia đang thực sự kháng cự thì ít mà vô vọng phản đối thì nhiều, vì thế ta không nên coi Iran có địa vị gần như một cường quốc xét lại [a revisionist power].)  Rõ ràng là, Trung Quốc và Nga mong muốn bành trướng ảnh hưởng trong khu vực. Trung Quốc đã đưa ra các đòi hỏi hung hăng về chủ quyền trên biển và các đảo tranh chấp gần bờ, đồng thời lao vào việc tăng cường sức mạnh vũ khí. Putin có viễn kiến khôi phục lại địa vị bá quyền của Nga đối với “những nước lân cận”. Cả hai đại cường này đang hung hăng giận dữ trước địa vị lãnh đạo của Hoa Kỳ và sẵn sàng chống lại nó khi họ có thể.

Nhưng Trung Quốc và Nga không hẳn là những cường quốc xét lại. Như cựu Bộ trưởng Ngoại giao Israel, ông Shlomo Ben-Ami, từng nói, chính sách đối ngoại của Putin “phản ánh sự căm phẫn của Putin về việc Nga bị cho ra bên lề địa chính trị hơn là tiếng hò reo xung trận của một đế quốc đang trỗi dậy.” Hẳn nhiên, Trung Quốc mới thực là một cương quốc đang trỗi dậy, và điều này đã cám dỗ Trung Quốc vào một cuộc đọ sức nguy hiểm với các đồng minh của Hoa Kỳ tại châu Á. Nhưng hiện nay, Trung Quốc không ra sức phá vỡ những liên minh này của Mỹ hay lật đổ cái hệ thống quản trị an ninh khu vực rộng lớn hơn, hiện thân trong các tổ chức như Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hay Thượng đỉnh Đông Á. Và thậm chí nếu Trung Quốc nuôi tham vọng cuối cùng sẽ làm điều này đi nữa, các đối tác an ninh của Mỹ trong khu vực ít ra cũng đang trở nên mạnh hơn, chứ không yếu hơn chút nào. Tối đa, Trung Quốc và Nga chỉ là những kẻ phá đám. Họ không có những lợi ích – xin đừng nói đến tư duy, khả năng, hay đồng minh – thúc đẩy họ lật đổ những luật lệ và định chế toàn cầu đang có.

Trên thực tế, mặc dù Trung Quốc và Nga phẫn nộ vì Hoa Kỳ đứng đầu hệ thống địa chính trị hiện nay, nhưng họ chấp nhận cái logic chủ yếu của khuôn khổ này, và chấp nhận với lý do chính đáng. Sự cởi mở cho phép họ tiếp cận thương mại, đầu tư, và công nghệ từ các xã hội khác. Luật lệ cung cấp họ công cụ để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia. Mặc dù có các tranh cãi về sáng kiến mới là “trách nhiệm bảo hộ” (một nguyên tắc chỉ được áp dụng một cách có chọn lọc gần đây), trật tự thế giới hiện nay vẫn tôn trọng các qui phạm lâu đời về chủ quyền quốc gia và nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ nước khác. Những nguyên tắc này của Hiệp ước Westphalia vẫn là nền tảng của chính trị thế giới – vì thế Trung Quốc và Nga đã ràng buộc lợi ích quốc gia mình với chúng (mặc dù Putin có chủ trương phục hồi lãnh thổ đang gây ra tình trạng nhiễu loạn).

Vì vậy, ta không nên ngạc nhiên là Trung Quốc và Nga đã hội nhập sâu sắc vào trật tự quốc tế hiện nay. Cả hai đều là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, với quyền phủ quyết, và cả hai đều tham gia tích cực vào Tổ chức Thương mại Thế giới, Quĩ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và Nhóm G-20. Họ là những cường quốc địa chính trị trong hệ thống, ngồi ở chiếu trên trong việc quản trị toàn cầu.

Trung Quốc, mặc dù trỗi dậy nhanh chóng, nhưng không có một nghị trình toàn cầu đầy tham vọng nào cả; họ vẫn tập trung vào công việc nội bộ, quyết duy trì chế độ đảng trị. Một số trí thức và nhân vật chính trị, như Diêm Học Thông (Yan Xuetong) và Chu Thành Hổ (Zhu Chenghu), thực sự theo đuổi một danh mục gồm các mục tiêu xét lại. Họ coi hệ thống phương Tây như một mối đe dọa và đang chờ đợi cái ngày mà Trung Quốc có thể tổ chức lại trật tự quốc tế. Nhưng những tiếng nói này không lọt vào tai tầng lớp lãnh đạo chính trị ở chóp bu. Thật vậy, các lãnh đạo Trung Quốc không còn muốn theo đuổi những hiệu triệu mà họ đưa ra trước đây về một cuộc thay đổi sâu rộng. Năm 2007, tại một hội nghị Ủy ban Trung ương, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thay thế những đề xuất trước đó về một “trật tự kinh tế quốc tế mới” bằng lời kêu gọi đòi hỏi những cải tổ khiêm tốn hơn tập trung vào công bằng và công lý. Học giả Trung Quốc Vương Tập Tư (Wang Jisi) đã lý luận rằng động thái này là “tinh tế nhưng quan trọng,” đưa định hướng của Trung Quốc tiến gần tới định hướng của một nhà cải cách toàn cầu. Hiện nay Trung Quốc muốn giữ một vai trò lớn hơn tại Quĩ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, muốn có một tiếng nói lớn hơn trong những diễn đàn như G-20, và muốn thấy đồng Nhân dân tệ được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Đó không phải là nghị trình của một nước đang cố gắng xét lại trật tự kinh tế.

Trung Quốc và Nga còn là những thành viên có uy tín trong câu lạc bộ hạt nhân. Đặc điểm quan trọng nhất của cuộc dàn xếp trong thời Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô (và sau này với Nga) là nỗ lực chung của hai nước nhằm giới hạn vũ khí hạt nhân. Mặc dù quan hệ Mỹ-Nga đã xấu đi từ đó, nhưng yếu tố hạt nhân trong dàn xếp này vẫn được duy trì. Năm 2010, Moskva vàWashingtonđã ký kết Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược mới nhất (New START), đòi hỏi hai bên cùng cắt giảm vũ khí hạt nhân tầm xa.

Trước thập niên 1990, Trung Quốc là kẻ đứng ngoài câu lạc bộ hạt nhân này. Mặc dù Bắc Kinh có một kho vũ khí hạt nhân khiêm tốn, nhưng họ tự coi mình là một tiếng nói của thế giới đang phát triển phi hạt nhân (the nonnuclear developing world) và lên tiếng chỉ trích các hiệp ước kiểm soát vũ khí và cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Nhưng bằng một thay đổi ngoạn mục, sau đó Trung Quốc đã quay qua ủng hộ một loạt hiệp định về vũ khí hạt nhân, gồm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và Hiệp ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân toàn diện. Trung Quốc đã khẳng định một lý thuyết “không ra tay trước trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân”, duy trì một kho vũ khí hạt nhân nhỏ, và đưa toàn bộ lực lượng hạt nhân của mình ra khỏi tình trạng báo động. Trung Quốc còn đóng một vai trò tích cực trong Hội nghị thượng đỉnh về an ninh hạt nhân, một sáng kiến do Obama đề xuất năm 2009, và Trung Quốc đã tham gia “tiến trình P5”, một nỗ lực hợp tác [giữa năm hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ và cũng là năm cường quốc hạt nhân] để bảo đảm an toàn vũ khí hạt nhân.

Qua một loạt vấn đề rộng lớn, Trung Quốc và Nga đang hành xử như những đại cường có địa vị ổn định hơn là những đại cường xét lại. Họ thường tìm cách tránh né các giải pháp đa phương, nhưng thỉnh thoảng chính Hoa Kỳ và các cường quốc dân chủ khác cũng làm như vậy. (Bắc Kinh đã phê chuẩn Công ước LHQ về Luật Biển; nhưng Washington thì chưa.) Và hiện nay, Trung Quốc và Nga đang sử dụng luật lệ và định chế toàn cầu để thúc đẩy lợi ích của mình. Những xung đột với Hoa Kỳ xoay quanh việc Trung Quốc và Nga muốn có tiếng nói mạnh hơn trong trật tự hiện hữu và tìm cách vận dụng trật tự này sao cho phù hợp với nhu cầu của mình. Mặc dù hai cường quốc này muốn tăng cường địa vị của mình trong hệ thống, nhưng hiện nay họ không tìm cách thay thế hệ thống này.

TIẾP TỤC NẰM TRONG HỆ THỐNG

Cuối cùng, thậm chí nếu Trung Quốc và Nga có toan tính bác bỏ những điều cơ bản của trật tự toàn cầu hiện nay, thì sự mạo hiểm này sẽ chỉ làm họ nản chí và chuốc lấy thất bại mà thôi. Những cường quốc này không những sẽ chống lại một mình Hoa Kỳ, mà họ còn phải đương đầu với một trật tự có tổ chức và kiên cố nhất toàn cầu mà thế giới chưa từng biết đến trước đây, một trật tự được ngự trị bởi những quốc gia theo chế độ tự do, tư bản, và dân chủ. Trật tự này được hậu thuẫn bởi một mạng lưới do Hoa Kỳ lãnh đạo gồm các liên minh, các định chế, các mặc cả địa chính trị, các quốc gia lệ thuộc, và các đối tác dân chủ. Trật tự này tỏ ra năng động và có sức bành trướng, dễ dàng kết nạp những quốc gia đang trỗi dậy, bắt đầu bằng Nhật Bản và Đức sau Thế chiến II. Trật tự này chứng tỏ có khả năng chấp nhận một lãnh đạo chung [shared leadership], chẳng hạn như trong các diễn đàn như G-8 và G-20. Nó cho phép các nước nằm ngoài phương Tây trao đổi thương mại và tăng trưởng kinh tế, chia sẻ các lợi ích của việc hiện đại hóa. Nó đáp ứng nhu cầu của nhiều mô hình chính trị và kinh tế khác nhau đến mức độ ta phải ngạc nhiên – dân chủ xã hội (Tây Âu), tân tự do (Vương quốc Anh và Hoa Kỳ), và tư bản nhà nước (Đông Á). Sự phồn thịnh của gần như mọi nước – và sự ổn định của chính phủ họ – trên cơ bản dựa vào trật tự này.

Trong thời đại của trật tự tự do, những vùng vẫy của các thế lực xét lại chỉ là công khó dã tràng. Thật ra, Trung Quốc và Nga đều biết rõ điều này. Họ không có những viễn kiến tầm cỡ để tìm ra một trật tự khác thay thế. Đối với những cường quốc này, các quan hệ quốc tế chủ yếu nhắm vào việc tìm kiếm thương mại và tài nguyên, bảo vệ chủ quyền của mình, và, nơi nào có thể, bá quyền khu vực. Họ chưa từng chứng tỏ có ý muốn xây dựng trật tự riêng cho mình hay thậm chí chấp nhận đầy đủ trách nhiệm đối với trật tự hiện nay và chưa từng đưa ra các viễn kiến thay thế về tiến bộ kinh tế hay chính trị toàn cầu. Đó là một khuyết điểm nghiêm trọng, vì các trật tự quốc tế thịnh và suy không chỉ vì quyền lực của quốc gia dẫn đầu; sự thành công của chúng còn tùy thuộc vào việc chúng có được coi là có chính nghĩa hay không và hoạt động cụ thể của chúng có giải quyết những vấn đề mà các quốc gia yếu cũng như mạnh đều quan tâm hay không. Trong cuộc đấu tranh vì trật tự thế giới, Trung Quốc và Nga (và chắc chắn Iran) giản dị là những kẻ đứng ngoài.

Trong tình huống này, Hoa Kỳ không nên từ bỏ các nỗ lực tăng cường trật tự tự do. Thế giới mà người Mỹ đang sống hôm nay là một thế giới mà họ phải hân hoan đón chào. Và đại chiến lược [grand strategy] mà Washington phải theo đuổi chính là cái đại chiến lược mà họ từng theo đuổi hàng chục năm nay: một dấn thân toàn cầu sâu đậm [deep global engagement]. Đấy là một chiến lược theo đó Hoa Kỳ tự ràng buộc mình với các khu vực trên thế giới thông qua thương mại, thông qua các liên minh quân sự, các định chế đa phương, và chính sách ngoại giao. Đấy là một chiến lược theo đó Hoa Kỳ thiết định được quyền lãnh đạo không những thông qua việc sử dụng quyền lực mà còn thông qua các nỗ lực bền bỉ nhắm vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu và làm ra luật lệ. Chiến lược này đã tạo được một thế giới thân thiện đối với những lợi ích của Mỹ, và thế giới trở nên thân thiện chính vì, như Tổng thống John F. Kennedy từng nói, đó là một thế giới ‘trong đó kẻ yếu hưởng được an toàn và kẻ mạnh tôn trọng công lý.”

G. J. I.

G. John Ikenberry là Giáo sư Chính trị học và Các Vấn đề Quốc tế tại Đại học Princeton và là Giáo sư Thỉnh giảng tại Trường Balliol, Đại học Oxford.

 

(ThuanNV- 23/6/2014) - Tôi đã thực hành bài thuốc phòng/chống đột quỵ mà anh Đan Mạnh Hùng phổ biến trên blog "Mùa xuân bình yên". Xin chép ra đây để các bạn K16 nghiên cứu.

Trên văn đàn VN, người ta đang bàn tán, thậm trí phản đối về một quyết định thu hồi luận văn Thạc sỹ của Nhã Thuyên. Tôi cho rằng cần phải minh bạch trong quá trình xét duyệt và cả QĐ thu hồi kia. Mọi người lên tiếng. Tất cả cần phải có Công bằng. Công lý cho tất cả mọi người. Các bạn cùng tham khảo ý kiến này:

http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/04/ban-phan-oi-va-yeu-cau.html?spref=fb

Đây nữa: http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/04/thu-ngo-ve-su-vi-pham-tu-do-hoc-thuat.html?spref=fb

Khoa học kiểu này- Thích thì cho, không thì thôi- tôi gọi đó là "Khoa học nhuộm phẩm màu" - Ai mà tiêu hóa nổi?

Cảm ơn các bạn. Hung Danmanh.

Người Việt có truyền thống tôn giáo sâu sắc hay không? Dấu ấn tôn giáo nào còn in đậm trong tâm hồn người Việt cho đến ngày hôm nay? Tôi thấy hình như chưa có lời giải đáp nào minh bạch và thuyết phục cho những câu hỏi trên, mặc dù ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu nhận ra tầm quan trọng của những câu hỏi đó trong việc giải mã những vấn đề văn hóa và thế giới đạo đức của người Việt. Có lẽ một phần là do câu hỏi tôn giáo là gì cũng chưa có được lời giải đáp thỏa đáng.

Năm 2013 đã qua và năm Giáp Ngọ sắp tới. Giữa lúc giao thời, xin chép câu chuyện "một thời gà nòi" để các thầy luyện gà K16toanco đọc cho vui.

 Mời bà con K16toanco đọc bài thơ năm chữ  "Lê Nin" của nhà thơ - dịch giả Thái Bá Tân.