RSS

Gặp gỡ 40 năm

Thế là đã gần 3 năm kể từ ngày chúng ta khởi động website để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ sau 40 năm.. Răng nhanh thế? Ba năm nữa, nhân 45 năm ngày vào trường, liệu lớp mình có tổ chức được một cuộc gặp mặt khác không nhỉ ? Răng không! Đọc bài của Quốc, tự nhiên mình bật ra hai cái răng!

Giang gọi điện bảo đọc Web K16 chưa? Lúc đó đang vội, trả lời Giang là mình đã đọc rồi và hứa đại với Giang là sẽ viết một bài đăng Web của lớp. Biết mần răng bây chừ?

Sáng nay đọc báo mạng, chợt đọc được một bài về Bệnh viện Việt Đức dùng công nghệ tế bào gốc chữa tai nạn tổn thương cột sống, mình mới nhớ đến chuyện cháu Nhật ở Khánh Vân. Nhân tìm lại vài thông tin của Nhật trên k16toanco mà mình đọc lại những bài thời ấy.

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

 

Bài thơ Thời Hoa Đỏ được Nhà thơ Thanh Tùng viết vào khoảng năm 1972 và theo Thanh Tùng là khi ấy cuộc hôn nhân của ông cùng người vợ ở Hải Phòng vừa đổ vỡ, Ông viết để kỷ niệm mối tình với người vợ đầu của ông ở Hải Phòng đã chia tay ông đi lấy người khác ở Quảng Ninh. Tuy chia tay nhau nhưng Thanh Tùng vẫn yêu thương người vợ này. Khi nghe tin bà mất, ông ra Quảng Ninh viếng bà. Nỗi bi thương về cuộc tình đã trở thành nguồn cảm hứng cho bài thơ Thời hoa đỏ ra đời.[1]

Trong lời bài hát chỉ nói chung chung là hoa đỏ, nhưng, ở đất Hải Phòng của Thanh Tùng, thành phố Hoa Phượng Đỏ thì ta ngầm hiểu đây là nói về hoa phượng vĩ.

 

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng và ca khúc Thời hoa đỏ

Thứ Sáu, 14/07/2006 23:29

Có lẽ cả đời viết nhạc của tôi sẽ có những nỗi buồn đọng lại, nhưng đó là những nỗi buồn trong sáng và đẹp, tôi không muốn hát lên một nỗi buồn bi lụy

 

Cứ đến mùa hè, dưới khung trời ngập màu phượng vĩ cùng tiếng ve bỏng rát những đường phố Hà Nội, nhiều cặp tình nhân bên nhau hay những người lang thang một mình trên phố cứ nha nhẩn câu hát: Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi, cánh mỏng manh xao xác đỏ tươi, như nuối tiếc một thời trai trẻ…

Nhiều người cứ thắc mắc tại sao trong câu thơ của Thanh Tùng: Như máu ứa một thời trai trẻ hay đến vậy mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng lại thay bằng nuối tiếc trong ca khúc Thời hoa đỏ. Ông chỉ cười: Có lẽ cả đời viết nhạc của tôi sẽ có những nỗi buồn đọng lại, nhưng đó là những nỗi buồn trong sáng và đẹp, tôi không muốn hát lên một nỗi buồn bi lụy...

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mở đầu câu chuyện bằng ca khúc Thời hoa đỏ - một ca khúc không chỉ là tiếng lòng của những con người đã đi qua một tuổi trẻ đắm say mà còn là ca khúc “ruột” của không biết bao thế hệ sinh viên mỗi tối ngồi gảy ghi ta hát trên những căn phòng nhỏ của các ký túc xá. Năm 1989, Hội Nhạc sĩ Việt Nam cử 4 nhạc sĩ sang Nga dự một trại viết, trong đó có ông. Không có giày lông, áo măng tô chỉ may bằng vải ka ki không thể chống lại cái lạnh giá bên nước bạn, chỉ 1 tuần ông bị ho ra máu. Những người bạn Nga đưa ông đi cấp cứu và suốt 1 tháng trời nằm viện, xung quanh ít có người đồng hương, ông lại không quen với bánh mì và xúp chua, nên cái gì trước mắt cũng xa lạ, chỉ có nỗi buồn và nỗi cô đơn là gần gũi, đang giày vò ông từng giờ. Sau 1 tháng, ông phải chuyển sang bệnh viện lao, hết nằm lại ngồi, ông lục trong ba lô của mình tập thơ 99 bài thơ tình, do một người bạn tặng trước lúc lên đường, để ngày ngày đọc cho khuây khỏa. Đọc đến bài thơ Thời hoa đỏ của nhà thơ Thanh Tùng, ông rất thích những câu thơ như thế này: Mỗi mùa hoa đỏ về/Hoa như mưa rơi rơi/Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/Như máu ứa một thời trai trẻ…

Ông chỉ cảm nhận những tình cảm của tác giả thơ qua câu chữ. Ông liên tưởng đến điệu quân tử vu dịch: Dặm trường thân gái một mình, gánh sầu xe nửa gánh tình chia đôi mà nàng Châu Long hát tiễn Lưu Bình trước lúc đi thi trong tích chèo Lưu Bình - Dương Lễ. Nỗi buồn trong tích chèo cũng mênh mang, man mác như những câu thơ ấy và tự nhiên trong tim ông, những nốt nhạc bắt đầu thốt ra, chậm rãi, nao nao như những tiếng bước chân vọng về từ quá khứ: Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao, bước lặng trên con đường vắng năm nao, chỉ còn tiếng ve sôi ồn ào, mà chẳng cho lòng nguôi yên chút nào…

Bài hát ráo mực, ông ngồi hát một mình trên giường bệnh, lòng cảm thấy nhẹ bẫng khi nỗi buồn, nỗi cô đơn hơn cả tháng nay vợi dần và sau đó ông dần bình phục trở lại. Về nước, ông bắt tay vào việc thu âm ca khúc với tiếng hát Lệ Thu, giọng alto chuẩn, cách nhả chữ tròn trịa đã gợi được hình ảnh của những cánh phượng rơi và bước chân chậm rãi của đôi tình nhân dưới vòm lá kỷ niệm. Và bài hát như là chiếc cầu nối để nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng có thể gặp tác giả của ca từ trong ca khúc Thời hoa đỏ mà ông chưa may mắn một lần gặp mặt.

Nhà thơ Thanh Tùng đã được nghe ca khúc Thời hoa đỏ qua Đài Tiếng nói VN, lấy làm ngạc nhiên khi bài thơ của mình là thơ tự do nhưng khi vào nhạc lại nuột nà đến thế. Còn nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng “muộn màng” xin phép được đổi mấy chữ: “Nhất là chữ tan tác và máu ứa, tớ thấy nó buồn quá, mà kỷ niệm thì buồn là đương nhiên, nhưng phải là cái buồn man mác, lạc quan chứ không bi lụy”.

Ca khúc Thời hoa đỏ được liệt vào một trong những bản tình ca hay nhất của ca khúc Việt Nam thời đổi mới. Những nốt nhạc tha thiết bên những ca từ đẹp, giàu tính tượng hình. Đặc biệt, đoạn điệp khúc vang lên ở đoạn cuối như là tiếng ve và tán phượng hoa tan tác rơi và bên dưới là đôi tình nhân bước đi trong kỷ niệm gợi một tình yêu đẹp đến nao lòng: Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi, mỗi mùa hoa đỏ về… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng cho rằng, ca khúc này mang âm hưởng của âm nhạc dân gian nhưng ông đã biến hóa, phát triển thành của mình, hiện đại hóa nó. Ông cũng cho rằng những ca khúc của ông đều có chất liệu dân gian như thế và đều gợi lại bóng hình quá khứ, nhưng không phải là quá khứ đã trôi đi vĩnh viễn mà là quá khứ đọng lại với cuộc sống hôm nay để người nghe soi vào đấy.

Để có được điều đó với ông là sự đánh đổi cả một đời. Sinh ra từ vùng quê chiêm trũng của tỉnh Hà Nam, 9 tuổi ông theo gia đình về sống ở Thái Bình. Làng ông thường làm gàu sòng mang xuống quê lúa bán vì quê ông nghèo, lúa ít, bán gàu cũng chẳng ai mua. Thông thường mỗi chuyến đi kéo dài 1 - 2 tháng là cùng, nhưng lần đi ấy, Pháp tràn xuống quê ông nên gia đình ông ở lại Thái Bình. Tuổi thơ ông đi đánh dậm, đơm con tép bắt con cua, đói khổ nhưng bù lại, những làn điệu chèo của quê lúa dần ngấm vào máu thịt ông.

Một tuổi thơ tự lập, một đời trai tự huyễn, một đời người không tự biến mình, tự lập ngay trong âm nhạc nên ông sống rất thật và đầy trách nhiệm với từng nốt nhạc.

 

Nhà thơ Thanh Tùng:

Âm nhạc đã chắp cánh cho thơ của tôi

Tôi viết bài thơ Thời hoa đỏ khoảng năm 1972 khi vừa đổ vỡ cuộc tình cùng người vợ ở Hải Phòng. Thời hoa đỏ là nỗi đau tột cùng thăng hoa thành định mệnh của đời tôi, thành tên gọi của Thanh Tùng. Vài năm sau, Thời hoa đỏ được nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, lúc đó làm trưởng ban thơ Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, xuống đất cảng chơi đã gặp tôi và đem về in lần đầu tiên.

Những năm 80 thế kỷ trước, tôi tình cờ nghe được bài hát của anh Nguyễn Đình Bảng trên sóng phát thanh. Khi ấy, tôi đã thôi làm công nhân ở nhà máy đóng tàu và đang bán sách văn học nước ngoài trên vỉa hè. Cảm giác khi nghe điệp khúc: “Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi...” khiến tôi tưởng mình đang bay lên. Âm nhạc của anh Nguyễn Đình Bảng chẳng những chắp cánh cho thơ ca mà còn chắp cánh cho tôi vượt qua những hệ lụy đời thường đang trĩu nặng. Tuy nhiên, tôi cũng hơi tiếc cho vài câu thơ mình tâm đắc lại không vào được khuôn nhạc như: “Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”.

Bây giờ, thơ tôi cũng được anh Phú Quang phổ nhạc, tôi rất thích bài Hà Nội ngày trở về nhưng “ít sướng” như gần 30 năm trước khi nghe Thời hoa đỏ. Kỳ lạ là lúc gian khó như vậy, thơ tôi cũng không ra khỏi quỹ đạo thơ chống Mỹ, nhưng lại xuất hiện một Thời hoa đỏ thấm đậm vẻ đẹp buồn, trữ tình. Và anh Nguyễn Đình Bảng đã sẻ chia cảm xúc đẹp và buồn đó cùng chúng ta.

 

ôi quen Thanh Tùng vào một chiều mùa hè năm 1965 với cách làm quen rất bộc trực của anh. Tôi đang sinh hoạt với các bạn Đoàn ca múa nhạc Hải Phòng, nơi tôi vừa được chuyển về đây công tác thì cô thường trực vào báo có người muốn gặp.

 

Thanh Tung thoi hoa do bui duong va noi dam me
Nhà thơ Thanh Tùng

Hơi ngạc nhiên, mới chân ướt chân ráo đến Hải Phòng, mình đã quen ai ở thành phố này?

Ra cửa, tôi càng ngạc nhiên thấy một thanh niên trạc ba mươi tuổi, gương mặt khôi ngô nhưng đôi mắt có một ánh sắc lạ, mặc bộ đồ bảo hộ lao động còn lem nhem vết dầu máy, chừng như anh vừa tan ca ở một xí nghiệp nào đấy! Anh tiến lại, bắt tay tôi:

- Tôi xin hỏi, anh có phải là anh Vân Long, ở Hà Nội về?

Đó là Doãn Tùng, làm thợ nguội ở xí nghiệp Cơ Khí Kiến thiết. Lúc đó anh chưa làm thơ, chỉ là một độc giả đang quan tâm đến thơ, khi làm thơ mới lấy bút danh Thanh Tùng.

... Thanh Tùng lại là người đưa tôi đến, rồi gần như thường xuyên cùng tôi, tối nào cũng có mặt ở nhà anh Đào Cảng, ngay cạnh nhà Đào Cảng lại là Trần Lưu, hai nhà thơ trẻ trực tiếp làm việc trong các xí nghiệp, sau được coi là lớp nhà thơ chống Mỹ đầu tiên, đồng thời là những hạt nhân đầu tiên của “văn học công nhân” Hải Phòng.

Nhà hai anh trở thành tụ điểm sinh hoạt của giới thơ. Những bạn sở tại gồm Lê Điệp, Nguyễn Bài, Trịnh Hoài Giang, Thi Hoàng. Nguyễn Thanh Toàn (nhà giáo mới được giải Nhì thơ viết cho thiếu nhi của báo Văn Nghệ), Hoàng Hưng (dạy văn trường cấp III An Dương, giải Ba thơ báo Văn Nghệ năm đó), Nguyễn Khắc Phục (thủy thủ đoàn tàu Giải phóng, lúc đó chỉ làm thơ).

...Từ sau lần gặp đó, Thanh Tùng bị lôi cuốn vào những cuộc đọc thơ, trò chuyện về thơ, về đời… Rồi anh làm thơ. Ngay từ những bài đầu, thơ anh đã mang một khí chất riêng, như hơi thở bật ra từ tính cách lộ cộ, thô tháp, bộc trực của con người anh, thơ bật ra từ lao động nặng nhọc, anh phải quai búa năm cân mười cân hàng ngày vào những thanh sắt.

Nếu Phùng Quán phải viết thơ “trên giấy có kẻ dòng” để nói sự thẳng thắn của mình thì chỉ Thanh Tùng là nhà thơ duy nhất làm thơ bằng phấn trên các tấm tôn, lúc lao động chẳng có giấy bút gì, mà đang cầm búa lại lúi húi viết thì cũng kỳ, tiện viên phấn đánh dấu sản phẩm, “ký hiệu” cảm xúc bằng những chữ viết tắt, rồi học thuộc. Tan hoà trong đời sống người thợ, anh mới có những chi tiết thơ này:

Tôi bước lẫn những tấm lưng hầm hập

Thấy mặn lòng từng vệt muối trắng vai ai

Thơ anh thường viết một mạch, ít sửa chữa, ít vần nhưng đầy hình tượng, khí thơ mạnh mẽ lôi cuốn mà vẫn trữ tình…

Lần đầu tôi đưa Thanh Tùng lên Hà Nội, thăm nhà thơ Xuân Diệu. Thanh Tùng đã đưa cuốn sổ chép những bài thơ mới viết cho nhà thơ đàn anh xem. Tôi cũng lặng im hồi hộp chờ nghe sự phán xét của ông. Bất ngờ ông quay lại gườm gườm đôi mục kỉnh:

- Cẩu…cẩu (cậu) lấy vợ chưa?

Thanh Tùng ngạc nhiên lúng túng:

- Dạ thưa anh, em chưa ạ!

-Thế thì về lấy vợ đi!

Và ông không nói một lời nào về thơ Thanh Tùng nữa. Ông hỏi tôi về những chuyện khác ở Hải Phòng. Đến nay, tôi và Thanh Tùng vẫn chưa “giải mã” được câu nói đó. Thơ dở quá nên về làm cái việc bình thường là lấy vợ, hay ông luôn bị các nhà…tập làm thơ quấy rầy, buộc phải có cách “trả lời mà không trả lời” như trên.

 

Thanh Tung thoi hoa do bui duong va noi dam me
Vợ chồng Thanh Tùng (trái) và Thanh Nhàn (phải)

Hạnh phúc chập chờn

Thanh Tùng về Hải Phòng, không biết có bực gì không, nhưng anh nghe lời bậc đàn anh: Lấy vợ.

Việc “trăm năm” của Thanh Tùng bao giờ cũng được quyết định nhanh gọn, bất ngờ. Tôi nói vậy, bởi anh không chỉ lấy vợ một lần.

Nhờ chị Nhàn, anh đã sống một thời gian có thể gọi là hạnh phúc của một người có gia đình. Trước đó, phải nói là một kiểu sống lam lũ, tạm bợ. Anh sống với cậu em ruột bị mắc bệnh tâm thần. Chăn màn lẫn với quần áo bộn bề, cạp lồng chưa rửa và bát rếch để đến bữa sau là chuyện bình thường.

Lại còn một bi kịch thường xuyên xẩy ra: Mỗi lần lên cơn, cậu Thanh hay đánh trẻ con và người qua đường đến thành thương tích. Lúc ấy, ông anh phải ra tay quần nhau với cậu em. Trói được cậu em khoẻ như vâm thì ông anh cũng kiệt sức.

Có đêm 30 Tết, Thanh Tùng giải cậu em ra một bệnh viện tâm thần ngoại thành, qua cánh đồng mưa hun hút lạnh. Nửa đường, cậu Thanh dứt cơn, mà lúc đó cậu lại hiền khô, rất dễ thương (Thanh từng là sinh viên năm thứ hai Tổng hợp văn). Thanh thủ thỉ hỏi anh: “Anh ơi! Em nhớ hôm nay là 30 Tết, người ta thì về sum họp gia đình, sao anh lại trói em đưa đi đâu thế?” Câu hỏi khiến gỗ đá cũng phải rơi nước mắt. Những năm chiến tranh bom đạn bời bời, cậu Thanh bỏ nhà đi đâu biệt tích...

Vợ chồng Thanh Tùng đặc biệt hay cãi nhau về …thơ trong bữa ăn.Tôi luôn phải làm nhiệm vụ hòa giải mỗi khi gặp nghịch cảnh đó. Chị Nhàn luôn phản ứng với thơ bỏ vần của chồng. Ngay cả khi anh được giải thưởng chính thức Văn học công nhân của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đến hai lần. Chị bảo nếu thơ có vần, chắc được giải cao hơn (!).

Về Thanh Nhàn, tôi giữ nguyên ấn tượng buổi đầu gặp chị. Chị mặc chiếc áo lụa màu gụ làm nổi bật nước da trắng hồng và đôi mắt bồ câu lúc nào cũng anh ánh như có ngấn nước. Với sắc đẹp nổi tiếng hoa khôi một thời của Hải Phòng, tôi không ngờ chị đã ba con và hai đời chồng.

Lấy chồng lần đầu mới 17 tuổi, sinh được một con trai, bị đối xử thô bạo, chị rời Quảng Ninh trở lại Hải Phòng. Đời chồng thứ hai được hai con gái cũng buộc phải ly hôn vì lý do tương tự. Ai ngờ một cuộc đời truân chuyên đến vậy, táp vào cuộc sống lam lũ của Thanh Tùng, lại bù đắp cho nhau thành chuỗi ngày hạnh phúc. Tôi còn giữ được tấm ảnh hai vợ chồng Thanh Tùng cùng hai đứa con một trai, một gái kháu khỉnh, xinh đẹp!

Nhưng với hai con người này, hạnh phúc cứ chập chờn như ảo ảnh. Trước khi Nhàn nhận lời lấy Thanh Tùng (người đã ngỏ lời với chị như một tia sét, khi chị chưa hiểu gì về anh) Nhàn đã nói với tôi: “Nếu anh Tùng sau này đối xử với em thô bạo như cả hai đời chồng trước cộng lại, em cũng phải cắn răng mà chịu, không thể thay đổi được nữa. Em đã quá biết thế nào là sống một mình, khi người đàn bà có chút nhan sắc…”.

Quả vậy, mấy năm người phụ nữ ấy sống một mình, đã nhận được những cực hình của dư luận, bởi những người đàn ông bất xứng luôn vây quanh, o ép chị. Không ai định tính chuyện lâu dài với chị, mà chỉ muốn lợi dụng những cơ hội…

Nhưng số phận đã không cho chị giữ được quyết tâm trên. Thanh Tùng không thô bạo mà ngược lại, buộc phải gượng nhẹ với chị, bởi chị bị bệnh tim khá nặng, bác sĩ khuyên “phải tiết chế trong đời sống vợ chồng”. Mấy năm chị làm chủ một Kiốt bán sách báo, nhan sắc còn mặn mà của chị vẫn thu hút một vài người hay lui tới. Thanh Tùng ghen dữ dội, và họ lại chia tay nhau. Xa nhau, Thanh Tùng vẫn lo lắng: Liệu “người ta” có biết giữ sức khỏe cho Nhàn?

 

Thanh Tùng

Thời hoa đỏ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê của thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa của một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn vào tận sâu mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu đương tha
thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim.
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Trong câu thơ của em anh không có mặt

Người phụ nữ này đã từng làm Thanh Tùng dịu đi những gì thô ráp, làm trong lại những gì bụi bậm trong anh, nhưng chính chị đã cho anh biết những đau khổ lớn của kiếp người: Yêu đến man dại và ghen đến điên cuồng. Khi hai người chưa chia tay nhau, lòng ghen ấy hướng về quá khứ.

Lúc tình yêu thăng hoa nhất, vẫn len lỏi một bóng mờ dĩ vãng của mối tình đầu “Trong câu thơ của em/ anh không có mặt”…Họ đã qua mối tình đầu dại khờ thời trẻ, nhưng mối tình đó ai ngờ lại là bất tử…Trong trạng thái ấy, bài thơ Thời hoa đỏ ra đời.

Mỗi người trong cuộc tình đều bị cánh hoa mang lửa này đặt một “vết xước vào trái tim”, vết thương tinh tế mà sắc lẻm, nỗi đau không trào máu mà rỉ máu…Nỗi buồn của Thời hoa đỏ khá cao thượng: Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say. Nếu anh thổ lộ chân thành Anh biết mình vô nghĩa đi bên em khi em hát lên mối tình xưa thì không phải anh ghen, mà anh chấp nhận như chấp nhận một quy luật, một lẽ đời vốn thế!

Bởi tiếng hát hoài nhớ một thời cũng đánh thức chính kỷ niệm của riêng anh: Sau bài hát rồi em như thể/ Em của thời hoa đỏ ngày xưa/ Sau bài hát rồi anh cũng thế/ Anh của thời trai trẻ ngày xưa. Thanh Tùng đã ghi lại được tình yêu, tình người muôn thuở với một khí vị mới mẻ, chân thành, tha thiết…

Bài thơ này được công bố, như một “đứa con lạc loài” ở thời điểm ra đời của nó. Điều này không nhiều người để ý, hoặc biết rồi lại quên đi, người đọc thơ, người nghe hát chỉ cần tọa hưởng bài thơ hay của Thanh Tùng hoặc ca khúc phổ nhạc của Nguyễn Đình Bảng…

Tôi nhớ bài thơ được in ngay trên tạp chí Văn Nghệ Quân đội. Điều này độc giả nên nhớ đến công của nhà biên tập thơ Phạm Ngọc Cảnh, đã “không nỡ” để bài thơ hay đó chìm trong bóng tối, dám chịu trách nhiệm khi cho in. Sự đón nhận của công chúng cũng khác thường. Bình thường thì một sự “lạc điệu” như vậy không thể qua mặt một số cây bút phê bình. Nhưng hình như họ cũng lặng lẽ ghi nhận, không phản ứng gì.

Một phần hẳn cũng do tạp chí Văn Nghệ Quân đội là tờ báo lớn, có uy tín chính trị lâu đời, hoặc cũng có thể bài thơ với tình người chân thành cũng động tới nỗi riêng tư kỷ niệm của chính họ? Bây giờ lùi xa vài thập kỷ ta càng thấy, đó là nỗi khát cuộc sống thời bình với những nhu cầu tinh tế, mọi trạng thái cảm xúc của con người muốn được bộc lộ và đáp ứng!

Mọi người đều nương nhẹ với một vật thể mỏng manh dễ vỡ, tấm gương trong vắt vô tội ai soi cũng thấy tuổi trẻ , tình yêu của mình trong đó, những câu thơ đẹp đến nao lòng, rỉ máu: Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ… Bài thơ cứ thấm dần trong mạch đời, cho đến khi gặp được sự cộng hưởng, đồng điệu của nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng thì nó oà ra, bừng nở với sự tiếp nhận được nhân lên rộng rãi qua sóng phát thanh…

Những gì làm nên bài thơ đó, có cả những sự việc rất cụ thể mà do gần gũi với tác giả, tôi được biết. Nhớ hôm nghe tin Mỹ ném bom hủy diệt Hòn Gai, chị Nhàn như điên lên vì lo lắng cho đứa con trai đầu của chị đang sống với bố nó ngoài đó.

Chị nhất quyết phải ra Hòn Gai, xem nó có mệnh hệ gì? Thanh Tùng can không được, không thể để vợ đi một mình giữa lúc bom đạn. Hai vợ chồng đi nhờ một chiếc xe vận tải quân sự, ban đêm, được thả xuống giữa một đống ngổn ngang vôi gạch, trước kia là thị xã Hòn Gai.

Không một bóng người để hỏi thăm. Lần ra đến bờ Vịnh, may lại gặp một người quen sắp bơi thuyền ra thăm người nhà đang sơ tán ở một vòm hang ngoài Vịnh, gần hang người chồng cũ của Nhàn trú ngụ.Vợ chồng Tùng được đưa đến cửa hang, vẫn là một quang cảnh hoang lạnh không người, nhìn sâu vào mới thấy leo lét một ngọn đèn hạt đỗ. Chị Nhàn nhất định không cho anh vào cùng, để khỏi kinh động những người trong đó. Chị vào, và mất hút mấy tiếng đồng hồ. Thanh Tùng chỉ thiếu nước phát điên lên vì chờ đợi. Gần sáng, anh phải xông vào. Dưới ánh sáng tù mù, vợ anh đang ôm đứa con ngủ ngon lành…

Nhớ tiếng búa khắc vào hồn phố

Chị Nhàn là con người đầy đam mê nhưng là một người mẹ hết lòng với con. Khi đứa con trai đầu của chị đã thành người lớn, được tin con đang gặp khó khăn trong đời sống, chị liền để lại quán sách ở Hải Phòng, ra Hòn Gai thuê một căn nhà nhỏ lưng chừng núi mở quán nước nghèo để được gần gũi, giúp đỡ con.

Một cơn đau tim đã chấm dứt mọi nỗi đau, đến lúc chết cũng không một người thân bên cạnh, cái chết chênh vênh bên sườn dốc như biểu tượng cho cuộc đời truân chuyên của chị…Thời điểm ấy thật dễ nhớ: Đang dự Đại hội nhà văn IV ở Hà Nội, Thanh Tùng nhận được điện báo, nhưng về đến Hòn Gai thì xóm giềng đã lo xong tang ma cho chị.

Có một thời gian, Thanh Tùng nuôi con bằng …nắm đấm. Đó là nhái cách nói của nhà thơ Trần Nhuận Minh viết về anh trong bài Nhà thơ áp tải. Anh nhận việc đi bảo vệ những chuyến xe chở các mặt hàng điện tử cho một cơ quan. “Đất nước có một thời/ Kẻ gian nhiều như nấm/Không ngờ một nhà thơ/Lại sống bằng... …nắm đấm”. (Trần Nhuận Minh). Có đêm giao hàng ở kho Đức Giang xong, nhớ bạn bè, anh đã cuốc bộ một mạch về Hà Nội, vừa kịp sáng để uống với tôi một ly cà phê nóng.

Dư thừa sức lực vẫn không mang nổi sự cô đơn. Một hôm, anh đưa về nhà một người phụ nữ khoẻ mạnh, đâu cũng trôi dạt từ Thái Bình, Nam Định về thành phố kiếm sống, anh thông báo cho bạn bè: Anh đã có vợ. Tôi chưa kịp biết mặt chị. Chị chỉ sống với Thanh Tùng ở khoảng giữa hai lần tôi xuống Hải Phòng, mà không năm nào tôi không về Hải Phòng thăm bạn một hai lần. Nghe đâu sau đó chị phải trốn khỏi Hải Phòng vì một món nợ cũ!

Có lần nghe tin chị đang ở TPHCM, Thanh Tùng tìm vào, chị vẫn lần hồi kiếm sống, chưa có một chỗ trú ngụ. Họ tái ngộ một đêm trên vỉa hè thành phố, rồi cái khó bó cái khôn, không có cách giải quyết nào khác, Thanh Tùng lại trở về với hai con.

Mùa hè 1993, tôi về Hải Phòng, đến thăm căn buồng của anh, đứa con trai đã lớn, đã tự lập được bằng chiếc tủ bán băng đĩa ở một nơi xa. Cô con gái theo bà dì vào TPHCM học nghề uốn tóc. Thanh Tùng lại trở về cuộc sống độc thân như ngày xưa. Căn buồng lại loạn xà ngầu chăn màn không cần gấp, bát đĩa không buồn rửa, lại cho mấy bà bán hàng gửi hàng nhờ. Thanh Tùng vặn quạt máy tiếp bạn, bụi mù căn phòng. Chúng tôi đành mang chiếu ra ngủ ngoài sân để đỡ công thu dọn. Nhân đó tôi có mấy câu thơ tặng Thanh Tùng: Hai nhăm năm/ Vợ đã dưới mộ/Con thành chim bay/Còn cái tổ/ Bụi của hạnh phúc/ Quẩn lên ở góc phòng này.(Cái tổ không) .

Chính cảnh sống bụi bậm ngay trong nhà mình đó đã động lòng bè bạn, tôi tin là ngay tại Hải Phòng cũng có nhiều đám mối manh cho Thanh Tùng, nhưng phải duyên thì có cách ngoài nghìn cây số, con ngựa giống hăng hái như Thanh Tùng cũng coi chẳng là…cái đinh! Chính bà mối vợ nhà thơ Hoàng Hưng tận TPHCM đã thành công trong việc giúp đỡ bạn chồng.

Hồi đó tôi còn ở căn gác nhỏ phố Bà Triệu, nhìn sang Đài Phát thanh TNVN. Tự nhiên thấy Thanh Tùng xuất hiện, Thanh Tùng tự nhiên xuất hiện là chuyện tất nhiên, có bao giờ anh phải báo trước với ai là anh sẽ đến! Nhưng có cái lạ là thấy anh ăn mặc có vẻ diểm dắn hơn mọi khi, mà chỉ vì chiếc áo sơ mi trắng. Cái lạ thứ hai là anh dẫn theo một người phụ nữ, tuổi không còn trẻ nữa, mà quyết không phải là người trong giới nghệ sĩ. Có một vẻ gì như hơi bồn chồn, hơi bức xúc cố ghìm nén ở chị.

Có điều lạ nữa là chị hỏi chuyện gia đình tôi khá kỹ, hơn cả sự quan tâm xã giao bình thường, xem vợ chồng tôi làm việc ở đâu, con cái học hành ra sao. Vẻ bồn chồn dịu dần đi, khi biết hai đứa con tôi đều đang học Đại học trong nước và ngoài nước. Nhất là khi tôi nhắc lại kỷ niệm những năm tôi là cán bộ văn hoá ở Hải Phòng, thường làm việc với cụ Doãn An, thân sinh Thanh Tùng, phong độ như một nhà nho, lại là một tác giả kịch bản xuất sắc viết về đời sống thợ thuyền, mắt chị sáng lên một ánh khác lạ!

Sau tôi mới rõ câu chuyện: Dưới sự xếp sắp của chị M. phu nhân nhà thơ Hoàng Hưng, mẹ con người bạn chị giới thiệu sẽ ra Hà Nội, ở nhà một bà bác. Thanh Tùng sẽ phải đến chào, làm quen. Khi bà mẹ và chị ưng ý, cụ Doãn An sẽ tới thay mặt nhà trai chính thức đặt vấn đề với bà mẹ chị. Mọi việc phải diễn ra trong vòng mươi ngày nghỉ phép của chị.

Nhưng vốn là một gia đình từ Hà Nội vào sinh sống trong Nam, có rất nhiều mối quen biết ở Hà Nội, Hải Phòng nên vừa đến Hà Nội, chị đã nhận được nhiều thông tin từ Hải Phòng dội lên, mà hình như đều là những thông tin ... không có lợi cho Thanh Tùng.

Vậy là phải tự mình thẩm tra! Trong lần thứ hai gặp Thanh Tùng, đột nhiên chị hỏi: “Anh có bạn thân ở Hà Nội không, chúng ta đến thăm bạn của anh, được chứ ?” Và thế là từ phố Huế, mấy bước chân là đến nhà tôi. Tôi trở thành nhân chứng cho tư cách của nhà thơ vốn chịu nhiều điều tiếng. Đến ngày nhà trai hẹn đến thì cụ Doãn An bị mệt không lên Hà Nội được. “Thì anh xem có ai ở Hà Nội đủ tư cách thay mặt gia đình anh?” Thanh Tùng nghĩ ra ngay một người, mà chưa kịp nói hết câu đề nghị, người ấy đã reo lên: “A! Hay quá! Đi hỏi vợ cho Thanh Tùng hả? Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tôi ký cả hai tay!”.

Và nhân chứng thứ hai xuất hiện: Đích thân ông Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam đi hỏi vợ cho hội viên của mình!

Thế là “xuất giá tòng…thê”, Thanh Tùng lấy vợ, nhập cư nơi ở mới gần cùng thời điểm cháu Hương, con gái Thanh Tùng, cũng được nhận vào làm ở một hãng Mỹ phẩm tại TPHCM. Bạn thơ Nguyễn Vũ Tiềm, tổng biên tập Tài hoa trẻ mời anh làm một chân biên tập báo.

Bước vào cuộc sống mới cũng là bước vào mối hoài niệm dằng dặc khôn nguôi với cái thành phố tuy không phải quê gốc nhưng đã sinh ra anh ở phần hồn, phần sự nghiệp. Anh đã trưởng thành trên từng viên gạch hè đường, từng đau khổ vật vã như cây cỏ dưới cơn bão số 6 năm ấy.

Thế mà do phải bươn chải với cuộc sống, với niềm hy vọng mong manh về một hạnh phúc mới, đã phải rời bỏ Hải Phòng, rời bỏ từ Tiếng búa khắc vào hồn phố/ Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường…Anh bộc bạch chân thành: (Nơi) tôi đã bị ít nhiều phản phúc/ Sao bây giờ thành nỗi nhớ thương sâu!

Giọng thơ Thanh Tùng là tiếng thơ trực cảm, chỉ có cái tôi trữ tình nói trực tiếp với người đọc, không cần thông qua một sự bầy đặt nào của nghệ thuật, cả nghĩa tốt lẫn nghĩa xấu của khái niệm này.

Trái tim thi sĩ đầy nội lực của anh ứ tràn ra những câu thơ, dù chỉ tả cảnh thôi mà khiến người đọc choáng váng cùng anh: Trong những vòm cây vun vút chuyển màu/ Trong những vạt bụi bồng bềnh ảo giác/Chóng mặt khi bất ngờ đổ xuống/Cả một trời vô tận sắc vàng.

Con người thô tháp mà tinh tế không chỉ một lần cảm thấy: tôi rỗng ra/ như chiếc chai đêm qua còn lăn lóc trên bàn…Anh đang cô đơn day dứt nhớ cái thành phố đầy ắp một thời hoa đỏ: Muốn rời đi, muốn trở về.Lo âu ngổn ngang khắp phía/ Mặt phố chòng chành như bể/ Mặt người sắc lạnh hoang vu…Một mình với bao chờ đợi/ Mà như chẳng đợi chờ chi!

Nhưng tôi biết với sức sáng tạo còn nóng hổi, chính những nỗi nhung nhớ dằn vặt ấy cũng là một dòng mới của thơ anh, con người thi sĩ sống bản năng, bản thể suốt đời…

Hội K16 Toán Cơ chúng ta sau cuộc “đại gặp nhau” vào tháng 10/2011 đã chuyển hướng thành những cuộc “tiểu gặp nhau”, cụ thể năm 2012 đã tổ chức được 1 số cuộc. Bản chất đây là cuộc gặp gỡ nhóm! Tích cực nhất là nhóm có tên gọi là Câu lạc bộ Cờ tướng. Ngày 31/3/2013 nhóm này có tổ chức giao lưu đầu năm. Để chứng tỏ nhóm rất vô tư (không có lợi ích nhóm) xin có báo cáo công khai về cuộc gặp gỡ này.

Bạn Trương Mạnh Hùng mời tất cả các anh chị và các bạn trong lớp K16 dự đám cưới con gái của hai bạn Hùng và Tuyết: cháu Trương Tuyết Mai.

Anh cựu binh xe tăng Trịnh Khắc Đảo về Hà Nội mời anh em bạn bè K13 và K16 lên thăm nhà và dự cưới con trai ở TP. Vĩnh Yên ngày thứ bảy 5-1.

Ngày 21/12/2012 là ngày kết thúc kỷ nguyên theo lịch Gregory của người Maya. Ngày này có phải "Ngày tận thế" không? Ngày này sẽ như thế nào, chắc là ngày sau  sẽ biết. Trong chuỗi ngày 21 tháng 12, tôi luôn nhớ về ngày này của cái năm 1972 mịt mù khói lửa do B52 Mỹ ném xuống miền Bắc mà chủ yếu là  Hà Nội – khi đó tôi đang là sinh viên khoá 16 Toán Cơ.

Năm 2011, chúng ta đã kỷ niệm ngày vào trường 40 năm về trước - năm 1971. Nhưng phải nói rằng chính năm 1972 mới là năm đậm đặc sự kiện. Năm 1972 là năm chúng ta đi sơ tán, là năm 23 bạn phải bỏ sách bút để cầm súng, là năm chúng ta đã sống rất kham khổ tại nơi sơ tán và kết thúc là những ngày chúng ta tập quân sự trên Cầu Ca, chứng kiến trận tập kích chiến lược đường không của máy bay B52 vào Hà Nội. Không ai quên được nửa đêm 19/12/1972 khi cả lớp đang hát bên bếp lửa thì nghe thấy tiếng bom rền từ phía Hà Nội và bầu trời đỏ lửa.

 

Sáng ra tôi vội chạy lên mạng tìm mua ít hoa để tặng các thày cô đã dạy và đã học K16 Toán Cơ - Đại hoc Tổng hợp Hà Nội. Đi chợ về khá sớm ấy thế mà mở trang Web của lớp K16 đã thấy  đại diện Ban liên lạc có lời chúc mừng cùng bản danh sách với nhiều thông tin rất đáng quý. Hoa đẹp đã mua rồi, lòng thành cho phép mình tặng hoa và có thêm lời chúc.

 

Sáng ra tôi vội chạy lên mạng tìm mua ít hoa để tặng các thày cô đã dạy và đã học K16 Toán Cơ - Đại hoc Tổng hợp Hà Nội. Đi chợ về khá sớm ấy thế mà mở trang Web của lớp K16 đã thấy  đại diện Ban liên lạc có lời chúc mừng cùng bản danh sách với nhiều thông tin rất đáng chú ý. Hoa đã mua rồi, lòng thành cho phép mình tặng hoa và có thêm lời chúc.